Hoàn thành NC-17 <‘đã đóng ebook’> A Duke in Shining Armor (Difficult Dukes #1) - Loretta Chase

Thảo luận trong 'Góc dịch các tác phẩm tiếng Anh' bắt đầu bởi thuylinhh, 7/12/24.

  1. thuylinhh

    thuylinhh Lớp 3

    Chương 16.2

    Ripley cho cô thời gian chuẩn bị. Cô sẽ tắm rửa, và cô hầu sẽ nâng niu chiều chuộng cô—như lẽ phải.

    Chuyện ái ân này tuyệt đối không thể hấp tấp. Lần đầu của cô—dù anh đã dịu dàng hết mức có thể—vẫn không như lẽ ra phải thế. Đêm nay anh phải bù đắp.

    Anh cũng cần thời gian.

    Anh còn phải viết cho cô một bức thư.

    Sáng mai, rất lâu trước khi cô thức dậy, anh sẽ rời đi.

    Thường thì anh viết nguệch ngoạc cho xong; sự kiên nhẫn của anh hiếm khi kéo dài quá một trang. Lần này anh cũng sẽ không cho phép mình phá lệ. Anh đâu phải thi sĩ. Dù sao, viết dài chỉ dễ sa vào ủy mị, mà điều anh không muốn nhất là trở nên sến sẩm.

    Không, điều anh mong nhất là bức thư ấy rốt cuộc chẳng cần đến. Sẽ là một nghịch lý chẳng buồn cười chút nào nếu Công tước xứ Ripley rốt cuộc tìm thấy thứ mình thiếu suốt cả cuộc đời trưởng thành, rồi lại không sống để tận hưởng nó.

    Khi ấy, anh chỉ còn biết tự trách mình.

    Anh đã không công bằng—với Olympia cũng như với Ashmont.

    Anh lấy những bức thư Ashmont gửi ra. Ngôn từ đều lịch sự, như phép tắc quy định. Ashmont đã nhận và gửi quá nhiều loại thư như thế để khỏi phải bận tâm nghĩ ngợi; ngay cả cậu ta cũng sẽ không hạ mình thô lỗ, chứ đừng nói đến sỉ nhục, trong một bức thư thách đấu.

    Ấy là điều một quý ông—dù tai tiếng đến mấy—cũng không làm. Giống như chuyện gian lận trên chiếu bạc… hay quyến rũ vị hôn thê của bạn mình.

    Blackwood khôn ngoan từ chối làm người chứng cho cả hai, Ripley bèn nhờ Ngài Pershore—người mà anh từng mua không ít con ngựa hảo hạng và có thể tin vào sự kín kẽ của ông ta. Anh đã đáp thư thách đấu của Ashmont bằng cùng một sự nhã nhặn.

    Hai người làm chứng đã gặp nhau và tìm cách ngăn cuộc đấu xảy ra. Nhưng như Ripley dự đoán, họ đã thất bại. Không còn cách nào khác để xóa đi nỗi nhục nơi công chúng. Mọi lời xin lỗi chân thành đến đâu cũng không đủ.

    Anh ân hận vì đã làm bạn mình tổn thương. Anh ân hận vì đã chơi gian. Nhưng anh không hề hối tiếc vì đã đưa Olympia đi khỏi Ashmont. Trái lại, nếu không làm thế, Ripley mới thật sự hối hận đến không gì cứu vãn.

    Cuộc gặp đã ấn định vào sáu giờ sáng mai; Ripley đã thu xếp một cỗ xe trạm chở anh và Pershore tới bãi đấu. Anh cũng đã liên lạc với thầy thuốc, người sẽ gặp họ tại đó. Mọi thứ đã đâu vào đấy.

    Chỉ còn việc viết bức thư—bức thư có thể sẽ là bức duy nhất anh từng viết cho… vợ mình.

    Anh lắc đầu, cố giũ đi những cảm xúc đang dọa lấn át.

    Anh chấm bút vào nghiên mực.

    Em yêu dấu, anh bắt đầu.

    ***

    Trong những dinh thự lớn ở London, các phòng tầng trệt và tầng một thường lộng lẫy, bày ra cho thiên hạ xem. Còn trên các tầng cao hơn thì kém xa, vì mấy ai ngoài người nhà và gia nhân đặt chân tới.


    Nhưng Dinh thự Ripley thì không vậy. Chiếm gần như cả một cánh nhà nhìn ra khu vườn mênh mông, dãy phòng của nữ công tước rộng rãi và xa hoa chẳng kém gì các phòng đón khách. Tuy đồ đạc không thuộc loại tân thời—thậm chí có món cổ xưa và vô giá—tất cả đều đâu ra đấy, sạch sẽ và được nâng niu chăm chút.

    Olympia đã tắm rửa và thay áo trong sự dễ chịu. Người hầu của cô, Jenkins—đi theo cô từ Dinh thự Gonerby—đang phấn khích tới mức suýt nữa thì mỉm cười.

    Dĩ nhiên Jenkins, như ai nấy, đã ngầm cho rằng việc Olympia bỏ trốn ngay trong ngày cưới sẽ biến cô thành kẻ bị xã hội ruồng bỏ. Lúc ấy, cô hầu sẽ phải chọn, hoặc trung thành với tiểu thư, hoặc nghĩ cho tương lai mình mà tìm chủ mới. Chủ nhà dính vào tai tiếng thì gia nhân cũng bị liên lụy. Dẫu trung thành mấy, nhiều người cũng khó lòng chịu nổi.

    Và đó chỉ là một trong vô số hệ quả mà Olympia chưa kịp nghĩ đến khi cô chạy trốn đám cưới đầu tiên của mình.

    Thế nhưng nếu cô không bỏ trốn, làm gì cô có mặt ở Dinh thự Ripley lúc này—ngồi trước bàn phấn, tự hỏi đêm nay chồng cô định bày trò gì—và Jenkins đã chẳng vui sướng đến thế khi tỉ mỉ chải tóc cho chủ, chỉnh cho cổ áo choàng buông rũ vừa vặn.

    Một giọng nam trầm bỗng cuốn bay mọi ý nghĩ về tóc tai với đồ ngủ.

    “Thế là được rồi, Jenkins,” Ripley nói.

    Jenkins đỏ mặt, đặt lược xuống và vội vã đi ra.

    Lý do đôi má đỏ lập tức hiện lên khi Olympia quay khỏi bàn phấn nhìn về phía cửa. Ripley mặc áo choàng, mà xem chừng bên trong chẳng có gì. Cổ anh để trần, và đường chữ V hẹp nơi vạt áo hé lộ làn da vàng sậm, lấm tấm lớp lông mịn sẫm màu. Ánh mắt cô trượt xuống dọc theo áo choàng—sa-tanh xanh rêu thêu thùa, lót lụa tím—xa hoa hệt như cả căn nhà.

    Rõ ràng chồng cô ưa những thú vui nhục thể và tiện nghi. Anh hẳn sẽ hợp với các pasha của Đế chế Ottoman. Như anh từng nói, tự kiềm chế không phải món tủ.

    Đây là người đàn ông mê xa xỉ, phóng túng, và không chơi theo luật.

    Cô tự hỏi đêm nay anh định phá luật nào.

    Một thoáng run rẩy lướt qua người cô—nhưng là vì hồi hộp hay vì trông đợi thì cô không chắc.

    “Anh vào đúng lúc,” anh nói. “Jenkins suýt sửa được mái tóc em rồi, mà anh lại thích nó rốihơn—như lúc anh tháo mạng che mặt cô dâu của em. Cái đầu tiên ấy.”

    “Ôi, Ripley.” Cô toan đứng bật dậy. Cô muốn nhào vào vòng tay anh. Không biết vì sao lại thấy nôn nóng đến tuyệt vọng như vậy, nhưng quả là thế.

    “Đừng, ngồi thêm chút nữa nào,” anh bảo. “Anh muốn làm rối tóc em một chút… rồi ‘phá phách’ những chỗ khác.”

    Cô ngồi lại, nhìn chăm vào tấm gương trên bàn phấn. Cô vẫn là Olympia—vẫn cô gái có vẻ ngoài chẳng mấy nổi bật như mấy hôm trước khi soi gương trong lễ phục cô dâu. Nhưng bên trong thì không còn như trước. Vài ngày qua dài như cả một đời. Một đời với một người đàn ông, cô chợt nhận ra. Bao nhiêu giờ đồng hồ, và trong quãng thời gian ấy cô dường như đã sa vào tình yêu—không thể cứu vãn.

    Anh bước đến, tháo mối bím gọn gàng Jenkins vừa tết. Những ngón tay dài của anh luồn vào tóc cô, nới lỏng từng lọn. Cô cảm nhận bàn tay ấy theo cách hoàn toàn khác bàn tay người hầu. Cô cảm nhận rõ sự gần kề và hơi ấm từ thân thể rắn rỏi của anh.

    Cô muốn quay khỏi bàn phấn để anh kéo mình đứng dậy ôm trọn vào lòng.

    Cô nói, “Em chợt nghĩ, anh với em đã ở cạnh nhau nhiều hơn khối đôi trước khi cưới. Thành ra chắc ta hiểu nhau hơn họ nhiều.”

    “Anh biết em nhiều hơn mức nên biết trong đêm tân hôn,” anh đáp. “Nhưng đó là lỗi anh—vì quá nôn nóng. Lẽ ra em phải có một màn giới thiệu đàng hoàng. Để anh bù muộn vậy.”

    “Chúng ta có phải người khuôn phép đâu,” cô nói. “Sao đêm tân hôn của ta phải giống thiên hạ? Với lại, từ bao giờ anh lại quan tâm đến cái gọi là nên làm vậy?”

    “Từ khi có em.” Anh dịch sang, quỳ xuống bên cạnh cô.

    Anh cầm bàn tay trái của cô, nhìn một thoáng nơi chiếc nhẫn cưới dường như phát sáng trên ngón tay. Anh hôn mu bàn tay. “Đêm tân hôn của em lẽ ra phải đặc biệt. Hoàn hảo.”

    “Anh tử tế và chu đáo quá,” cô nói. “Nhưng nhớ nhé: nếu chưa hoàn hảo, chúng ta có thể thử lại. Rồi lại thử. Luyện tập, anh biết đấy.”

    Anh bật cười, nhưng trong tiếng cười có một âm sắc lạ khiến cô ngẩng lên nhìn vào mắt anh. Đôi mắt ấy khép kín; cô chỉ còn thấy một con sói ngái ngủ.

    Anh cúi đầu hôn mu bàn tay cô, rồi tới các khớp ngón tay, sau đó lật bàn tay cô lên hôn lòng bàn tay và cổ tay. Tiếp tục như vậy với tay kia. Lần này, khi anh hôn vào lòng bàn tay, cô khẽ co tay lại, để các khớp ngón tay tì dưới cằm anh. Cô nâng cằm anh lên nhìn, nhưng tất cả những gì cô thấy chỉ là âu yếm… và một lời hứa hẹn tinh quái, đúng như vậy.

    Anh mỉm cười, đưa tay cô ra, rồi hôn vào cằm, vào má, lên gò má cô. Kế đó, môi anh phủ lên môi cô, và cái chạm khẽ tức thì hóa thành một nụ hôn sâu. Vừa dịu dàng lại vừa không. Như cơn bão mùa hạ họ từng trải qua, nhưng lần này không còn là trận chiến nữa. Lần này là lời tuyên nhận lẫn nhau, là sự hòa quyện của hai tâm hồn hoang dại.

    Cô nào biết tâm hồn mình hoang dại đến thế cho tới khi bỏ trốn cùng anh, để rồi bừng sống mà chẳng hay mình đang bừng sống. Cô nào biết mình bị giam cầm và dồn nén đến thế cho tới khi anh bảo cô là “cô gái hư”.

    Cô nào biết mình đã tự kìm nén biết bao—và giờ thì hiểu quá rõ tại sao. Các tiểu thư không thể hành xử theo bản năng. Các tiểu thư không thể nghịch ngợm như các công tử. Các tiểu thư không thể “gieo mạ hoang”. Nếu làm thế, họ sẽ mang họa vào thân, bêu xấu cả gia đình. Các tiểu thư buộc phải theo luật.

    Còn ở bên anh, những luật ấy không còn hiệu lực nữa.

    Được tự do, cuối cùng, cô bây giờ mới thật sự sống dậy, những nụ hôn của anh như một thứ dược liệu chữa lành. Cơ thể cô ấm dần lên, và hơi ấm ấy lan vào tim, xoa dịu nơi ấy. Cái đầu lúc nào cũng bận rộn của cô lặng lại, mềm đi.

    Như uống quá nhiều brandy—nhưng ngon hơn, còn tuyệt hơn bội phần.

    ***
    Vẫn hôn cô, anh nhấc cô khỏi ghế, bế cô ra khỏi phòng trang điểm vào buồng ngủ, đặt cô đứng bên cạnh giường.

    “Anh muốn ngắm em,” anh nói. “Tất cả. Và dùng chính thân thể anh mà tôn thờ em, như anh đã hứa trong nhà thờ.”

    “Em cũng muốn nhìn anh,” cô đáp. “Mỗi lần anh xuất hiện ở một buổi tiệc, em đều dõi theo. Dễ lắm, vì ai nấy cũng nhìn ba người các anh, xem lần này lại gây náo loạn gì. Nhưng suốt thời gian ấy, em chỉ nhìn mình anh—cách anh bước đi, cách anh khiêu vũ. Em muốn là cô gái lộng lẫy được anh dìu bước. Em còn chẳng nhận ra mình đang nhìn theo kiểu ấy, nghĩ những điều ấy, hay vì sao nữa. Hoặc nếu có biết, em cũng không dám thừa nhận với chính mình.”

    “Anh cũng nhìn em,” anh nói. “Và anh nghĩ thật đáng tiếc là em quá đoan chính.”

    “Nhưng em đâu phải vậy đâu,” cô nói.

    “Giờ thì anh biết là thế,” anh đáp. “Mất có… gì nhỉ… sáu, bảy năm từ ngày em ra mắt? Một gã đàn ông có thể chậm hiểu đến mức nào cơ chứ?”

    “May là em vẫn còn vài năm tốt đẹp trước mắt,” cô nói.

    “Đúng.” Những ngón tay anh lùa vào tóc cô , dịu đến mức khiến cô run khẽ.

    Anh hôn lên trán cô, chạm môi vào chóp mũi. Anh tháo kính cô, đặt lên bàn đầu giường.

    “Thế em sẽ chẳng nhìn rõ anh nữa,” cô nói.

    “Anh sẽ ở thật gần,” anh đáp.

    Áo choàng mặc tại nhà của cô không có khuy hay móc; chỉ buộc bằng một sợi dây tua nơi eo. Anh tháo nút dây, áo choàng mở ra. Bên trong là chiếc váy ngủ vải muslin trắng thêu hoa. Anh đặt tay lên mặt cô, vuốt ve đôi má và chiếc cổ. Bàn tay trượt xuống bờ vai. Anh cúi hôn cổ, bờ vai, rồi hõm ngực cô. Làn da cô rung lên vì khoái cảm, nhưng đồng thời cũng âm ỉ nhức nhối bởi vị ngọt của việc được anh chạm vào, được anh hôn.

    Anh kéo tuột dải ruy-băng ở cổ áo và trượt chiếc váy ngủ khỏi vai cô. Cô cảm nhận rõ hơi đêm chạm vào da thịt.

    Những ngón tay anh lần từ cổ xuống bầu ngực, đẩy cổ áo thấp dần, cho đến khi bầu ngực hoàn toàn phơi mở trước mắt anh. Nhưng cô là cô gái hư—và chẳng thấy e thẹn chút nào. Huống hồ ở căn nhà câu cá ấy, anh đã thấy hết rồi. Cô muốn anh nhìn cô như khi ấy, như thể cô là sinh vật đẹp nhất anh từng thấy.

    Vẻ mặt anh đổi khác, và cô nhận ra ánh nhìn mình còn nhớ. Cô thoáng thấy một điều nữa, không ngờ tới. Đau đớn ư?

    Nhưng anh cúi đầu, môi đặt lên cô, lướt nhẹ trên bầu ngực—một ve vuốt khẽ như hơi thở. Khẽ là thế, mà cảm giác lan sâu vào trong cô, kéo siết nơi trái tim và thấp hơn nữa, đúng vậy, và giờ cô nhận ra đó là ham muốn.

    Cô muốn anh, và cô hiểu ra mình đã đợi anh suốt bao năm qua—trong vô vọng, vì cô chẳng dám hiểu chính mình. Cô đã uốn mình thành “điều nên là”, như một chiếc váy không vừa người. Chả trách cô em họ đáng ghét vẫn hay mỉa mai.

    Rồi anh ngậm lấy đỉnh ngực cô và mút khẽ, và cô quên sạch quá khứ, quên họ hàng, quên tất cả. Cô bấu chặt cánh tay anh, mặc cho những đợt sóng cảm giác tràn qua, khiến cô say ngất—một cơn say tuyệt diệu.

    Cô từng tin rằng chẳng người đàn ông nào thật lòng khao khát cô như chính con người cô.

    Còn anh—anh khao khát cô.

    Anh đùa nghịch, nâng niu bầu ngực còn lại, rồi đi xuống thấp dần, vừa kéo váy ngủ xuống dọc theo người cô, vừa trêu chọc làn da bằng môi và đôi tay quá đỗi sành sỏi. Anh liếm vào rốn cô, vẽ những vòng xoáy bằng đầu lưỡi, khiến cô bật ra một tiếng kêu khản nhỏ.

    Anh còn xuống thấp nữa, và váy ngủ tuột qua hông rơi xuống tấm thảm.

    Rồi anh đặt môi vào nơi ấy—giữa hai đùi cô—khiến toàn thân cô căng lại. Những cơn co thắt lan qua cô, vừa nóng rực vừa khoái lạc, cùng một nhu cầu dâng cao.

    “Ôi,” cô thở gấp. “Ôi trời ơi. Ôi, Ripley.”

    Anh không dừng, và cảm giác cứ dồn dập, đến mức gần như không thể chịu nổi. Cô vùi tay vào tóc anh, cơ thể rung lên từng nhịp, vượt ngoài kiểm soát, cho đến khi một cơn cực lạc dữ dội xé ngang, và cô buông tay, đổ người xuống.

    Anh giữ lấy eo cô, nhấc cô lên giường.

    Trong lúc cô lấy lại hơi thở, cố gom nhặt ý nghĩ, anh vứt áo choàng đi.

    Rồi cô lại thấy khó thở. Cô nằm bất động giây lát, nhìn anh, tim đập thình thịch, hơi thở đứt quãng.

    Rồi cô trượt người lên gối và nhìn ngắm thỏa thuê. Anh là chồng cô. Cô có quyền ngắm. Và phía trước đẹp chẳng kém phía sau—như ngày anh đứng trần trong bồn.

    Ở căn nhà câu cá, cô chưa thấy được nhiều; hai người vẫn mặc gần như nguyên vẹn. Còn bây giờ…

    Làn da anh ánh đồng dưới ánh nến—hẳn cũng bởi nắng trời Ý, nơi anh vừa từ đó trở về. Ánh sáng lấp lóa trên lớp lông mịn như dát vàng. Bờ vai rắn rỏi, cánh tay nổi cơ, ngực và bụng vạm vỡ—anh đẹp, cứng cáp và săn chắc như tượng Hy-La cổ. Có khác chăng, là… cô đã từng thấy tượng cổ—không phải tượng nào cũng che bằng lá vả. Cô cũng từng xem tranh trong sách. Nhưng anh thì…

    “Lạy Chúa,” cô thốt lên, giọng run tới mức chính cô còn khó nhận ra.

    Anh nhìn xuống nơi “đàn ông” của mình đang dương cứng—trông thật đáng nể.

    “Đàn ông sẽ như thế này,” anh nói, “khi hắn phát điên vì vợ mình. Nhưng đừng lo. Như anh từng nói mấy hôm trước, hiếm khi chết người.”

    Cô bật cười. “Ôi Ripley, anh đúng là người nói những lời… lãng mạn nhất trần đời.”

    “Giá anh nói được như thế,” anh đáp. “Trường hợp của anh, tốt hơn để hành động lên tiếng.”

    Anh trèo lên giường, quỳ phủ lên cô.

    “Nhưng em thích lời nói,” anh nói. “Anh sẽ nói cho em nghe, Em rất tuyệt vời.”

    Cô thấy cay nơi khóe mắt.

    “Em tuyệt vời khi say mèm và bỏ trốn,” anh nói. “Em tuyệt vời khi ra lệnh. Bảo anh đỡ em trèo tường, sai bảo anh đủ điều, cho anh khổ sở xoay xở với em. Ước gì anh đã bắt đầu đuổi theo em từ nhiều năm trước. Có bao nhiêu niềm vui anh đã bỏ lỡ cơ.”

    “Chúng ta sẽ bù lại,” cô đáp, giọng run. Cô chà khớp ngón tay lên đuôi mắt.

    “Không khóc,” anh nói.

    “Em không có khóc,” cô đáp. “Em chỉ là… Chuyện vợ chồng— nó rất nhiều cảm xúc.”

    “Nếu làm đúng, thì đúng là thế.”

    “Nếu với đúng người.” Cô cố mỉm cười. “Hoặc với người ‘sai’ mà lại đúng.” Cô giang tay. “Hôn em đi,” cô nói.

    “Sẵn lòng, thưa phu nhân.” Anh cúi xuống, để cô vòng tay qua vai, rồi hôn cô. Lần này không còn quá dịu. Vẫn dịu dàng, nhưng dữ dội và thẫm tối hơn. Như băng qua màn sương xuân để bước vào cơn bão hạ.

    Lần này cô cũng chạm vào anh—khám phá, ghi nhớ hình hài và cảm giác của anh như anh đã học về cô. Cô rải những nụ hôn lên vai, lên tay anh, và đưa đôi tay đi khắp nơi cô với tới được. Khi cảm thấy anh áp sát nơi mềm ấm của mình, cô siết lấy bờ mông anh; cô nghe tiếng cười nghẹn của anh khi anh vuốt ve nơi giữa hai chân—nơi anh vừa đặt môi làm những điều táo bạo mà khoái lạc nhất—và nơi giờ đây cô khát khao anh cháy bỏng. Rồi cuối cùng, anh tiến vào trong cô, bật ra một âm thanh nửa rên nửa cười.

    Lần này, cơ thể cô mở ra đón anh thật dễ dàng. Rồi chỉ còn cảm giác: sự hòa nhập, sự trọn vẹn, và niềm hạnh phúc của nó. Cô cảm nhận hơi nóng, mùi da thịt của anh, và hương của cả hai quện lại—nhưng trên hết là cảm giác kỳ diệu khi anh ở trong cô. Cô nâng chân, quấn quanh người anh; anh lấn sâu hơn, và cô kêu lên—không thành lời, chỉ là những âm thanh ngạc nhiên và khoái lạc.

    Lần này, mọi thứ kéo dài hơn nhiều so với cơn cuống quýt ở căn nhà câu cá. Lần này, họ ái ân—thong thả—bởi dĩ nhiên họ có cả thế gian thời gian. Chuyện yêu đương giống như tất cả những vũ khúc cô đã bỏ lỡ với anh, nhưng còn nhiều hơn thế: gần gũi tận cùng, da kề da, nóng bỏng và rộn rã hoan lạc. Cô dõi theo nhịp anh dẫn—chậm lúc đầu, rồi dâng lên, dâng lên, như một điệu valse cuồng nhiệt—cho đến khi cô bị xoáy vọt lên tận trời cao. Rồi cô hóa thành một vì sao bừng sáng, nổ tung trong hạnh phúc. Rồi là những đợt rung nhỏ hơn, và cuối cùng, cô lững lờ giữa bầu đêm, trôi dần xuống, để đáp an toàn vào vòng tay anh đang chờ sẵn.
     
    thanhphonge and thanhbt like this.
  2. thuylinhh

    thuylinhh Lớp 3

    Chương 17


    Vẫn chưa đủ.

    Nhưng đó là tất cả những gì Ripley có.

    Anh ôm cô thật chặt, vì có lẽ đây là đêm cuối cùng anh được ôm cô.

    Anh nói, “Giờ thì đúng như vậy chứ.”

    “Ra thế,” nữ công tước của anh cất lời. “Quan hệ vợ chồng chắc chưa trọn vẹn nếu người phụ nữ không ngất đi.”

    “Hoặc hét lên. Tốt nhất là cả hai.”

    Cô hơi trở mình trong vòng tay anh, ngước lên nhìn anh. “Chả trách em tìm mãi chẳng thấy gì trong mấy cuốn sách ở Dinh thự Newland. Chả trách mẹ em bắt đầu nói năng chẳng đâu vào đâu.”

    “Ồ, sách thì có chứ,” anh nói. “Anh có cả một bộ sưu tập sách dâm đãng đồ sộ. Có cuốn cổ lắm, nhưng chẳng gì sánh được với bản Kinh Thánh Mazarin năm 1450 in bằng chữ rời.”

    “Là cuốn đầu tiên in bằng chữ rời,” cô đính chính.

    Anh bật cười. “Anh còn tự hào sở hữu một bộ tranh khiêu dâm kha khá, trong đó có cả một tuyển tập tác phẩm tục tĩu của Thomas Rowlandson. Nhân tiện, theo hệ thống phân loại của em, em sẽ xếp mấy cuốn sách hư hỏng ấy vào đâu?”

    “Triết học tự nhiên,” cô nói. “Hoặc vào một nhóm nào đó của văn học, tùy trường hợp.”

    Anh nheo mắt nhìn cô. “Có vẻ em đâu hoàn toàn ngây thơ về khoản này. Lẽ ra anh phải nhận ra mới phải.”

    “Boccaccio,” cô nói. “Ovid. Chaucer. Nhưng khi chẳng biết gì, mấy thứ đó cũng chẳng có ý nghĩa mấy. Giờ thì em sẽ đọc lại bằng con mắt hiểu biết hơn.”

    “Nếu từng đọc cuốn The School of Venus, em hẳn đã hiểu hơn. Hình như từ thời vua Charles II. Nó mô tả rất thẳng thắn những chuyện các cặp đôi hay làm. Có cả minh họa.”

    Mắt cô mở to. Trong ánh nến chập chờn, anh cũng không chắc bây giờ chúng có màu gì. “Thật sao? Nghe đúng là thứ em từng tìm khi lục thư viện của chú em. Nhưng em gần như không biết phải tìm ở đâu.”

    “Nếu ông ấy có loại sách đó, chắc chắn đã giấu kỹ,” Ripley nói. “Cha em cũng vậy thôi.”

    “Em không chắc Cha biết trong thư viện mình có gì nữa,” cô nói. “Mà dù sao rồi cũng sẽ chuyển về cho chúng ta, ông sẽ chẳng bao giờ phát hiện. Em mong anh sẽ nghĩ xem nên để chúng ở đâu.”

    Đổi lại một thỏa thuận tài chính hào phóng, bộ sưu tập thư viện của Bá tước xứ Gonerby sẽ là một trong những thứ Olympia mang theo vào hôn nhân. Đây là một trong các điều kiện Ripley thêm vào khế ước hôn nhân.

    “Em muốn để sách ở đâu cũng được,” Ripley nói. “Chúng ta có thể mở rộng thư viện ở đây, hoặc chuyển chúng về ngôi nhà ở Lincolnshire. Hoặc một trong những căn nhà khác. Em muốn chuyển tập nào đi đâu tùy ý. Cũng có thứ vớ vẩn, em sẽ muốn loại bỏ. Việc cho em làm thì nhiều, chỉ e anh không giúp được bằng Mends.”

    Cô chống một khuỷu tay ngồi nhổm dậy. “Em đâu định dành hết thời gian làm thủ thư riêng cho anh đâu, thưa công tước.”

    “Nghe vậy anh nhẹ cả người. Vì anh còn có… tưởng tượng.” Anh nghĩ về tất cả những gì mình đã bỏ lỡ khi không có vợ. Nhưng không, với bất kỳ người vợ nào khác cũng chẳng thể như thế này. Phải là Olympia. Và phải là bây giờ. Sai thời điểm, sai hoàn cảnh… Thôi nào. Đừng ủy mị. Anh đang ở hiện tại.

    “Vâng, nếu em phải dành phần lớn thời gian trên giường—”

    “Không nhất thiết phải trên giường,” anh nói.

    “Nếu em sẽ dành phần lớn thời gian cho… chuyện vợ chồng, biết anh có trí tưởng tượng phong phú cũng hay đấy. Những… phóng tưởng.”

    Anh cười tủm tỉm. “Anh có chứ, em yêu. Và táo bạo nữa khìa. Anh hình dung em là nữ chủ nhân các buổi tiếp đãi của anh—”

    “Nữ chủ nhân của anh ư?”

    “Anh thấy em tổ chức những dạ vũ hoành tráng nhất London, những bữa tiệc tối khiến người ta thèm muốn,” anh nói. “Anh tưởng tượng cảnh lái xe ngựa đưa em dạo công viên, cùng cưỡi ngựa với em. Anh hình dung những bộ cánh lộng lẫy em sẽ mặc, trở thành người dẫn dắt thời trang.”

    “Quả là em… choáng thật.”

    “Một công tước độc thân là một chuyện,” anh nói. “Còn công tước có vợ thì có bổn phận xã hội. Và em biết rồi đấy, anh rất thích đãi tiệc. Nhưng từ nay, dạ tiệc của anh sẽ khiến cả thành phố xôn xao vì lý do khác hẳn. Hãy tưởng tượng giới thượng lưu há hốc mồm khi đọc trên tờ Foxe’s Morning Spectacle rằng chúng ta tiếp đãi cả nhà vua lẫn nữ hoàng.”

    “Em có thể hình dung mấy quý ông trong các câu lạc bộ rơi khỏi ghế vì sốc,” cô nói. “Thật lòng thì em cũng đã rơi khỏi giường nếu anh không chắn mất.”

    Cô nghiêng người, luồn những ngón tay qua tóc anh.

    Sự chạm vào của cô. Cái chạm ấy.

    Giọng nói cô.

    Cảm giác làn da cô, những đường cong ấm áp của cơ thể cô, cách cô mỉm cười, cau mày, bật cười. Cách cô nhìn anh như thể anh là cả thế giới. Sao anh lại chờ lâu đến vậy? Sao anh lại ngu ngốc và mù quáng đến thế?

    “Và cuối cùng, chúng ta sẽ khiêu vũ cùng nhau chứ?” cô khẽ nói.

    “Chúng ta sẽ khiêu vũ,” anh đáp.

    Anh nghĩ đến mọi lời hứa mình có thể buộc phải thất hứa—bất đắc dĩ thôi—tùy vào ngày mai mang đến điều gì. Rồi anh nói thêm, “Thực ra, bắt đầu luôn bây giờ đi.”

    “Ý anh là giả vờ khiêu vũ thôi phải không,” cô nói.

    “Không.” Anh ngồi dậy và hôn lên đỉnh đầu cô. Rồi lên chóp mũi.

    Sau đó anh trượt xuống khỏi giường. Tìm chiếc áo ngủ của cô và ngoắc tay gọi.

    “Cứ khỏa thân nhảy thì nghịch ngợm hơn,” anh nói. “Nhưng như thế thì đòi hỏi quá mức với khả năng tự kiềm chế còm cõi của anh.”

    Cô ra khỏi giường, anh trùm áo ngủ qua đầu cô. Cô bật cười, luồn tay vào tay áo và buộc dải ruy băng.

    Anh khoác áo choàng và thắt đai.

    “Em đứng cạnh lò sưởi đi,” anh nói. “Giả vờ đang nói chuyện với ông Mends quý báu của em, và hãy làm ra vẻ mô phạm hết mức có thể.”

    “Em cần kính,” cô nói. Cô chộp kính trên bàn đầu giường, đeo vào, rồi bước về phía lò sưởi bằng đúng dáng đi mà cô sẽ đi băng qua một phòng khiêu vũ: phảng phất nét sốt ruột mời gọi. Chắc Nữ hoàng Sheba cũng đi như thế. Và cả Cleopatra.

    Cô làm mặt nghiêm trang và bắt đầu trò chuyện với một món đồ sứ trên bệ lò—một quý ông mặc trang phục thời ông nội của Ripley, ngồi bên bàn viết thư. “Tôi e ngài nhầm rồi, ngài Mends. Theo tôi được biết, cuốn Monte Santo di Dio của Antonio di Siena, kèm ba bản khắc hiếm của Baldini theo mẫu của Sandro Botticelli, được đánh giá là cuốn sách đầu tiên in bằng bản khắc đồng.”

    Ripley sải bước băng qua phòng về phía cô. Mắt cá chân phải của anh nhói một cái, nhưng anh nhất quyết không để mình khập khiễng.

    “Tiểu thư Olympia,” anh nói, “tôi đến cho điệu nhảy của mình.”

    Cô ngước lên nhìn anh, hơi cau mày khó chịu. “Tôi không nhớ ngài đã ngỏ lời, thưa công tước, cũng chẳng nhớ tôi đã đồng ý.”

    “Tôi không ngỏ lời. Đây là điệu nhảy anh muốn. Và tôi là công tước, nhớ chứ.”

    Từ dưới hàng mi cụp, cô đảo mắt nhìn anh từ đầu xuống chân rồi ngược lên, và anh thấy nhiệt độ cơ thể mình tăng dần. Cái nhìn ấy. Đôi mắt ấy.

    “Phải, đúng là thế,” cô nói. Cô thở dài rồi quay lại với quý ông bằng sứ. “Xin thứ lỗi, ngài Mends, nhưng như ngài thấy đấy, ngài ấy là công tước, mà ngài biết họ thế nào rồi đấy.”

    Ripley nắm tay cô và dẫn ra giữa phòng. Anh cúi chào. Cô nhún gối. Anh khe khẽ ngân một khúc valse từ La Gazza Ladra của Rossini, ôm cô vào lòng, và họ bắt đầu nhảy.

    Mắt cá chân đau của anh thỉnh thoảng phản đối, nhưng yếu ớt thôi. Chỉ là mỏi nhẹ.

    Anh mặc kệ, và họ nhảy với nhau tự nhiên, ăn ý như cách họ vừa làm tình. Tự nhiên như cách họ bỏ trốn cùng nhau.

    Anh ước gì mình đã nhảy với cô sớm hơn.

    Biết bao cơ hội đã bỏ lỡ.

    Nhưng họ đang nhảy đây, chân trần, xoay vòng quanh buồng ngủ của cô trong khi anh ngân nga giai điệu, thỉnh thoảng hát vài câu tiếng Ý nhớ được—có lẽ có chỗ sai, nhưng kệ. Họ nhảy từ đầu này đến đầu kia căn phòng lớn. Họ nhảy vào phòng thay đồ rồi lại ra, Olympia khúc khích cười. Họ nhảy vào buồng the, vòng quanh, rồi lại trở ra phòng ngủ. Anh không muốn dừng, nhưng đêm mùa hè quá ngắn, ngắn đến đau, và anh chẳng còn nhiều thời gian.

    Cuối cùng anh choàng tay đưa điệu nhảy đến đoạn kết. Anh dạo bước cùng cô vòng quanh căn phòng như thể đó là phòng khiêu vũ, nhưng thay vì đưa cô về bên quý ông trên bệ lò, Ripley dẫn cô tới giường.

    Anh cúi chào.

    Cô nhún gối.

    Họ cười, thở dốc.

    Anh ôm lấy mặt cô. “Anh yêu em phát điên,” anh nói.

    “Em yêu anh phát điên,” cô nói.

    Tim anh lại đập thình thịch, không phải vì điệu valse. Anh tưởng trái tim muốn bật tung khỏi lồng ngực. Tưởng mình có thể bật khóc. Nhưng anh không được phép yếu lòng. Cô không được nghi ngờ, và anh không thể sướt mướt. Anh còn một con rồng phải giết, chỉ thế thôi. Không có lý do gì để làm hỏng đêm nay của cô, đêm tân hôn của họ.

    Anh nói, “Tốt. Vậy là xong…”

    Anh nhanh tay tháo đai áo choàng, tuột áo và quăng sang bên. Cô tháo dải ruy băng áo ngủ và kéo áo qua đầu.

    Anh bế cô, đặt cô lên giường.

    Anh lại yêu cô, dịu dàng và ngọt ngào hết mức anh biết.

    Lần này, họ ngủ sau đó.

    Nhưng ý nghĩ về điều chờ đợi vào ngày mai không rời anh. Nó tíc tắc đều đặn bên trong như chiếc đồng hồ, và anh tỉnh giấc khi trời vừa hửng sáng. Cô vẫn ngủ say, hầu như không cựa khi anh khẽ rời khỏi vòng tay cô.

    Hơi thở cô vẫn đều đặn khi anh lặng lẽ trườn khỏi giường, tìm áo choàng. Anh rút từ túi áo ra mảnh giấy đã viết sẵn và đặt lên bàn đầu giường. Không một tiếng động, anh đi qua hành lang nối hai phòng của họ và vào phòng mình.

    Người hầu của anh, Snow—một trong số ít người biết về cuộc hẹn sáng nay—mang cà phê và bánh quy vào.

    Ripley uống cà phê và ăn bánh. Anh chẳng muốn thứ nào cả. Nhưng anh đã từng làm việc này. Phải có cà phê và chút gì lót dạ. Phải tỉnh táo, minh mẫn, và quan trọng nhất, đừng run vì đói hay mệt.

    Anh mặc đồ đen. Tay đấu súng khôn ngoan luôn chọn màu sẫm, để khó thành mục tiêu hơn, nhất là trong một sáng London thường mù mịt mây.

    Đến giờ hẹn, anh cùng Snow rời nhà. Họ đi ra phố South Audley, rẽ vào Stanhope, rồi vào Park Lane, nơi một cỗ xe thuê đang đợi. Pershore đã ngồi sẵn bên trong. Để Snow theo sau bằng xe khác, Ripley bước lên.

    Cỗ xe lữ trạm lăn bánh về phía Putney Heath.

    ***
    Olympia đang khiêu vũ ở Almack’s.

    Trên gác, ban nhạc của Weippert chơi một khúc valse từ La Gazza Ladra của Rossini. Cô mặc áo ngủ, khiêu vũ với Ripley. Anh ăn vận như một vị pasha Thổ Nhĩ Kỳ, để ria mép, đội khăn xếp nạm đá quý cắm lông, quần phồng và dép mũi cong. Họ là đôi duy nhất nhảy. Những người khác đứng nhìn, chỉ trỏ, cười. Rồi ai đó hét lên, “Chặn họ lại! Chặn họ lại! Họ sắp trốn mất!”

    Cảnh thay đổi, và cô cùng Ripley đang chạy qua cầu Battersea, bị một con chó khổng lồ với cặp nanh dài nhỏ dãi đuổi theo. Họ phóng vào một cỗ xe ngựa thuê, sập cửa lại. Con chó lao ầm vào cửa, sủa điên dại. Bên trong họ gặp Ashmont, tay cầm súng lục. Olympia nhìn mà cứng người, không nói được gì, khi anh ta nâng súng, chĩa thẳng vào tim Ripley. Bên ngoài, con chó cào cửa, tru như quỷ dữ. Ashmont bóp cò.

    Olympia bừng tỉnh, tim đập thình thịch như thể cô vừa thực sự chạy trốn lũ quỷ và bị kẹt chung xe với vị hôn phu cũ mang sát khí.

    Trong thoáng chốc cô không thoát khỏi giấc mơ nổi và không biết mình ở đâu. Rồi cô nhận ra căn phòng không tối, mà tràn thứ ánh sáng ngọc trai của buổi sớm. Ánh mắt cô lướt qua những màn che giường đắt tiền, và cô nhớ ra.

    Cô nhắm mắt lại. Đêm qua. Ripley, mãnh liệt mà dịu dàng. Như mơ, như những tưởng tượng thời con gái. Anh khiến cô thấy mình như công chúa trong chuyện cổ. Anh đã làm đêm tân hôn của cô hoàn hảo, đúng như anh hứa. Anh…

    …không ở đây.

    Cô bật dậy, lạnh sống lưng. Cô thấy rõ anh không ở đó, nhưng vẫn đưa tay sờ lên gối nơi đầu anh từng tựa. Gối đã lạnh.

    Phải, đúng là vợ chồng có phòng riêng. Họ chỉ chung giường khi ân ái. Tất nhiên. Nhưng họ có tách nhau ngay trong đêm tân hôn không?

    Anh đã âu yếm biết bao.

    Anh yêu em phát điên.

    Đó không phải là mơ.

    Cô không hề mơ chuyện khiêu vũ chân trần, hay cảnh Ripley ngân nga khúc valse khi quay cô vòng vòng khắp phòng. Cô không hề mơ chuyện ân ái. Cơ thể cô đang đau mỏi ở những chỗ vốn chẳng quen. Cô không hề mơ cảnh ngủ trong vòng tay anh.

    Tất cả đều là thật. “Cái này cũng thế.” Trời ạ, đúng là cô ngốc quá! Biết đâu anh chỉ ra ngoài dùng phòng vệ sinh. Và nếu anh về phòng mình, có lẽ anh chỉ muốn để cô ngủ yên… điều đó hoàn toàn bình thường, hợp lý, thậm chí là chu đáo. Nếu không vì cơn ác mộng kia, chắc cô còn đang ngủ say.

    Ngôi chính của Dinh thự Ripley lùi sâu khỏi những phố xá ồn ào, lại có khu vườn rộng, nên đón ánh sáng tốt hơn đa phần nhà phố London. Dù lúc này trong năm mặt trời mọc từ bốn giờ sáng, và tuy sáng nay không hẳn rực rỡ, góc nắng và sự tĩnh lặng của cả nhà cho cô biết mình đã dậy sớm hơn lệ thường hàng giờ. Cô chắc đêm tân hôn của mình đã kéo dài quá nửa đêm.

    Nếu không muốn trông phờ phạc, lẽ ra cô nên ngủ tiếp.

    Cô vẫn ngồi y nguyên, lưng thẳng, nhìn chằm chằm bệ lò sưởi, nơi ông quý ông bằng sứ—người mà đêm qua cô giả vờ là Quý ngài Mends—đang ngồi bên bàn viết tí hon.

    Cô tự nhủ không có gì sai.

    Có gì đó không ổn.

    Cô trườn ra mép giường, sắp tụt xuống thì thấy một tờ giấy dày gấp gọn đặt trên bàn đầu giường.

    Em yêu dấu,

    Đến lúc em đọc dòng này thì mọi chuyện hẳn đã ngã ngũ, tốt hay xấu. Em sẽ giận điên lên, anh biết, và gọi anh bằng cả trăm chữ đồng nghĩa với đồ ngốc. Tin anh đi, nếu anh có thể cư xử thông minh hơn thì anh đã làm rồi. Nhưng cái bộ óc của anh, em biết mà. “Y hệt của anh ta, ít nhiều—mặc dù ít hơn thì thật khó mà tưởng tượng.’’ Em đã nói với anh thế hôm thứ Ba. Em còn nhớ không? Anh nhớ rõ lắm. Anh nghe em nói, đôi mắt hay đổi sắc của em hơi lơ mơ vì rượu brandy, và anh bỗng cười như thằng ngốc.

    Nếu có cách tránh được trò ngu xuẩn sáng nay, anh thề là anh đã tránh. Nhưng anh không thể trao cho bạn mình cái thỏa mãn mà cậu ta đòi hỏi. Anh hối tiếc vì phụ lòng tin của cậu ấy. Anh hối tiếc vì nỗi nhục mà cậu ấy phải chịu. Những điều này anh có thể xin lỗi. Nhưng anh không hề hối tiếc chuyện đâm đầu yêu em. Biết đâu anh đã yêu từ nhiều năm trước mà quá ngu ngốc nên không nhận ra. Dù sao đi nữa, giờ anh biết rồi, và anh kiên quyết không xin lỗi vì đã không trả em lại cho cậu ta. Nghĩ đến lúc anh suýt làm vậy, và thử tưởng tượng em là vợ cậu ấy chứ không phải vợ anh—thôi, không tưởng tượng nữa. Em là của anh, và anh đã tự cứu mình trong gang tấc.

    Mất một tình bạn chắc chắn không phải là cái giá quá cao, khi anh sẵn lòng đánh đổi cả mạng sống vì em. Không phải anh định làm vậy đâu, nhớ nhé! Nhưng nếu mọi chuyện thành tệ với anh, em phải luôn nhớ rằng anh không hối tiếc gì ngoài nỗi đau mà chuyện hôm nay có thể gây cho em. Em phải luôn tin rằng anh sẽ không đánh đổi dù chỉ một phút nào trong bốn ngày qua, bằng bất cứ giá nào. Em phải luôn tin là anh yêu em, tha thiết, vô bờ.

    Hãy tin anh, Olympia yêu dấu, nữ công tước thân yêu của anh,

    Tên ngốc của em,

    Ripley

    “Đồ ngốc!” Olympia kêu lên.

    Cô trượt xuống giường và giật dây gọi người hầu. Thấy không ai xuất hiện ngay, cô chạy băng qua phòng, bật tung cửa và quát chàng hầu đang gà gật ngoài hành lang, “Anh ấy đi khi nào?”

    Anh hầu Joseph lồm cồm bật dậy khỏi ghế, chớp mắt liên hồi. “Thứ lỗi, thưa Đức Bà?”

    “Công tước,” cô nói. “Anh ấy đi khi nào?”

    Mắt Joseph đảo lia lịa, như thể trông chờ Ripley sẽ chui ra từ gầm một chiếc bàn bày dọc hành lang. “Tôi không rõ, thưa Đức Bà.”

    “Hãy hỏi cho ra,” cô nói. “Và gọi người đánh thức hầu gái của ta với cả Wrenson. Ngay.” Wrenson là quản gia. Việc của ông là biết rõ mọi chuyện của mọi người, từng phút một.

    Joseph thoáng hoảng hốt.

    “Ngay,” cô lặp lại. “Nếu có ai biết thì Wrenson biết. Còn nếu ông ta không biết, hoặc giả vờ không, anh phải bắt gác cổng nói thật. Và bảo ông ta cho ta một xe hackney—không phải cỗ xe—đỗ trước cửa trong mười phút nữa. Đánh thức cả nhà cũng được. Ta không còn giây nào để mất.”

    Cô dùng đúng giọng điệu mà cô biết sẽ trị được đàn ông mọi lứa tuổi, mọi địa vị. Anh hầu quay người chạy thục mạng.

    Cô vội quay lại phòng, lao vào phòng thay đồ. Cô giật tung các ngăn tủ áo và lôi bừa quần áo ra. “Jenkins!” cô gọi. “Cô ở đâu rồi hả trời? Làm sao tôi tìm được thứ gì để mặc đây? Jenkins! Vì Chúa, nhanh lên!”

    Cô đang kéo váy vóc khỏi ngăn tủ, quẳng cả giấy bọc lẫn váy xuống sàn thì Jenkins hấp tấp chạy vào, còn đang buộc dây áo choàng, mũ ngủ lệch hẳn sang một bên.

    Mắt người hầu mở to khi thấy bãi chiến trường bà chủ vừa tạo ra.

    “Tôi cần thứ gì mặc cho thật nhanh,” Olympia nói. “Không màu sặc sỡ.” Mặc đồ sặc sỡ thì ai cũng nhận ra cô từ xa, có khi lại thành mồi nhử chết người. “Mười phút, không hơn—mà khi ấy có khi đã muộn.”

    “Thưa Đức Bà?”

    “Tí nữa tôi sẽ giải thích. Giờ không kịp.” Olympia nhìn ra cửa sổ phòng thay đồ. “Chúng ta vẫn có hi vọng tới kịp. Mùa hè họ sẽ không bắt đầu trước sáu giờ. Mấy giờ rồi, Jenkins?”

    “Gần năm giờ kém rưỡi, thưa Đức Bà.”

    “Vẫn kịp,” Olympia nói. “Nhưng trong mười phút nữa tôi phải mặc đồ xong—và xe hackney ấy phải đỗ sẵn trước cửa.”

    “Thưa Đức Bà, như thế là không thể—”

    “Hãy biến điều không thể thành có thể, Jenkins. Đây là chuyện sống còn. Nếu cô không mặc kịp cho tôi, tôi sẽ mặc mỗi lót mà ra đường đấy.”

    Viễn cảnh Nữ công tước xứ Ripley xuất hiện ngoài phố trong chiếc áo lót khiến Jenkins bật chế độ “làm điều không thể”.

    Mất chừng một phần tư giờ, nhưng Olympia đã tính bụng tối thiểu cũng phải hai mươi phút cho cả hackney lẫn quần áo. Jenkins xoay xở mặc xong cho cả bà chủ lẫn cho mình trong thời gian gần như bằng không vì cô nằng nặc đòi đi theo, còn Olympia thì bảo sẽ không chờ.

    Thế là Nữ công tước xứ Ripley cùng hầu gái rời nhà đúng lúc—hay đúng như mức con người có thể—theo lời gác cổng thì có lẽ chỉ chậm chồng không quá nửa giờ.

    “Người làm chứng sẽ phải đo và kẻ vạch bãi đấu,” Olympia giải thích với Jenkins khi chiếc hackney lắc lư qua các con phố London. “Việc này mất thời gian, vì mỗi người sẽ muốn đặt đấu thủ của mình vào vị trí thuận lợi nhất. Phút chót có thể họ sẽ cố hòa giải hai bên. Dù cuộc hẹn chắc là sáu giờ—giờ thông lệ mùa hè—cũng có thể lùi tới bảy. Dù thế nào thì cũng chưa thể nổ súng trước khi làm đủ mọi thủ tục và kiểm tra, thỏa thuận xong xuôi.”

    Olympia cố nghĩ về thủ tục của một trận đấu súng, để khỏi nghĩ tới cảnh những viên đạn chết người lao vào hai gã đại ngốc vốn đáng ra là bạn thân nhất của nhau.

    May cho thần kinh của cô, xe hackney chạy khá hanh thông. Vì Dinh thự Ripley ở không xa Park Lane, họ đi trên những con phố rộng của đại lộ. Các xe hàng đang lục tục vào London, nhưng hackney của Olympia vẫn qua Hyde Park Corner* mà không bị cản trở. Chẳng lâu sau, bánh xe đã lăn trên Fulham Road, hướng thẳng tới Putney Heath.

    ***

    Trên đường đến nơi “gặp gỡ”, Pershore đưa Ripley một chai nước soda pha chút brandy.

    Ripley nhận lấy, bật cười. “À, để lên dây cót.”

    “Có thể anh không cần,” Pershore nói. “Nhưng tôi thì có.”

    “Dù cần hay không, vào giờ này nó cũng là thứ kích thích dễ chịu.” Ripley uống một ngụm. “Lẽ ra tôi muốn ngủ thêm một giờ nữa, hoặc hơn.” — với vợ trong vòng tay. Nhưng ít nhất anh đã có đám cưới và đêm tân hôn. Và, ôi, một đêm tân hôn như thế!

    “Một trận đấu súng ngay ngày hôm sau lễ cưới,” Pershore nói. “Ashmont đúng là quá quắt thật.”

    “Trong mắt cậu ta, quá quắt là việc tôi cưới vị hôn thê của cậu ta.”

    “Nếu chờ lâu hơn, có khi anh ta sẽ nguôi giận.”

    “Rồi sao nữa?” Ripley nói. “Cậu ta đang là đề tài của cả London — điều chẳng mới mẻ gì — nhưng lần này lại bị thương ở chỗ nhạy cảm nhất của đàn ông: lòng kiêu hãnh. Cậu ta cần màn ‘gặp gỡ’ này — và tôi thừa nhận tôi cũng vậy. Không còn cách nào khác để dẹp yên chuyện này.” Họ buộc phải đấu. Bằng không, giữa họ sẽ mãi có hiềm khích. Không còn phương thuốc nào ngoài việc một trong hai — hoặc cả hai — bắn một viên đạn vào đối phương.

    Man rợ, Olympia sẽ gọi thế. Nhưng đàn ông vốn man rợ.

    Nếu những người làm chứng tìm được cách giảng hòa, Ripley sẽ vừa ngạc nhiên vừa mừng. Nhưng như anh đoán, nhiệm vụ đó bất khả thi. Vì không thể làm hòa, anh phải tập trung vào việc chiến đấu và chiến thắng.

    Anh không thể bước vào chuyện này nửa vời. Ashmont sẽ không như thế.

    Ripley không thể nghĩ mãi về lịch sử dài dằng dặc giữa anh với Ashmont và Blackwood, về việc họ từng không ít lần cứu nhau, nhất là khi cả ba là những cậu bé khốn khổ trong những ngày đầu thê thảm ở Eton. Đấu với anh em ruột mình cũng như thế này. Nhưng không thể nghĩ theo hướng ấy.

    Đây là chuyện danh dự.

    Danh dự đòi hỏi Ripley phải dốc hết sức giết bạn mình, và bạn anh cũng phải dốc hết sức giết anh.

    Họ đến Putney Heath kịp giờ. Họ dặn xe post chaise** đợi ở một chỗ kín gần đó, để có thể nhanh chóng chở người bị thương — hoặc kẻ phải chết. Chiếc xe cũng cần đỗ ở nơi khó lọt vào mắt lực lượng Cảnh sát Đô thị, những người đang rình đúng kiểu cuộc hẹn trái phép vào sáng sớm như thế này.

    Sau khi lấy hộp súng, Pershore và Ripley đi bộ một quãng ngắn tới điểm đã hẹn.

    Họ đến trước, đúng như Ripley mong.

    Anh thản nhiên đi dạo quanh bãi đấu như thể chỉ tới sớm hơn khách mời của một buổi tiệc. Mắt cá vẫn chưa hoàn toàn dễ chịu, nhưng anh nhất quyết không khập khiễng hay chống gậy.

    Vị bác sĩ và người hầu của Ripley — đến ngay sau Ripley và người làm chứng — để mặc anh một mình và tránh cản đường Pershore. Ông ta đang rà soát xem có vật gì cản tầm ngắm thì Ashmont và người làm chứng của cậu ta, Morris, xuất hiện từ một lối mòn, phía sau là bác sĩ và người hầu của họ.

    ***

    Chiếc hackney của Olympia dừng ở trạm thu phí cầu Putney; trả phí thì như mất cả đời, mà chờ cổng mở lại như mất thêm một đời nữa. Họ lọc cọc qua cây cầu cũ kỹ xiêu vẹo, rẽ vào High Street, lướt qua quán Sư tử Bạc.

    Trong đầu cô hiện lên từng cảnh: cô rơi tõm xuống nước… Ripley bế cô vào quán trọ giữa tiếng huýt sáo reo hò của người xem… bà thợ may cùng đám phụ việc và cái áo nịt ngỗ nghịch của họ… Ripley đứng trần trong một chiếc chậu… cảnh với Bullard ở sân…

    Bấy nhiêu chuyện chỉ trong một ngày, mà khoảng thời gian ở Putney cũng chỉ là một phần của ngày không thể quên ấy.

    Không thể kết thúc nhanh như vậy được.

    Họ không thể vừa mới tìm thấy nhau chỉ để rồi chấm dứt ngay bây giờ.

    Không thể kết thúc bằng việc anh gục chết trên một cánh đồng lầy lội vào một sáng mùa hè, ngay ngày sau lễ cưới của họ.

    “Em sẽ giết anh,” cô lầm bầm. “Anh không được làm thế với em, Ripley.”

    “Thưa Đức bà?”

    “Mấy giờ rồi?” Olympia hỏi.”

    ***

    Nỗ lực hòa giải cuối cùng thất bại, như lẽ tất nhiên.

    Mặt vô cảm như đeo mặt nạ, Ripley bình thản sải bước đến vị trí của mình và nhìn chằm chằm Ashmont, kẻ trông lạnh lùng, điềm tĩnh chẳng kém gì anh.

    Pershore trao khẩu súng cho Ripley.

    Súng đấu tay đôi của Ripley lúc nào cũng được giữ trong tình trạng hoàn hảo. Bên trong nòng không vương một hạt rỉ. Bộ khóa nổ và cò nhẹ đều chỉnh chu. Ripley thuộc nằm lòng cách súng của mình “đi” thế nào. Dù vậy, anh đã kiểm tra chúng từ sớm trước khi rời nhà, và anh với Pershore lại kiểm tra lần nữa khi nạp đạn. Tất cả đã lên liều đúng quy cách. Anh không lo trục trặc, tịt ngòi hay tai nạn vặt nào khác.

    Từ hồi còn nhỏ, anh, Blackwood và Ashmont đã luyện bắn—không chỉ bắn bia. Họ dùng một mô hình “mục tiêu giả” vận hành bằng dây, sẽ khai hỏa—dĩ nhiên là súng không đạn—về phía họ ngay khi họ bóp cò, nhờ thế học được cách giữ bình tĩnh dưới làn đạn. Ấy là kỹ năng mà người cha khắt khe của Blackwood đã nhồi vào họ. Dù vị công tước Blackwood đời trước ghét các trận đấu súng, ông vẫn hiểu đôi lúc không thể tránh. Đã thế thì đàn ông phải biết làm cho đúng phép.

    Từng làm người làm chứng cho Ashmont quá nhiều vụ, Ripley quen các thói của cậu ta y như quen chính mình. Anh không bao giờ xem nhẹ cậu ta, dù say hay tỉnh. Hôm nay, cậu ta có vẻ tỉnh. Ngay cả cậu ta cũng chẳng dại gì mà thức trắng đêm chè chén trước một trận đấu.

    Ripley đứng nghiêng người, căn thẳng hàng với đối thủ, súng trong tay phải, nòng chĩa thẳng xuống. Anh dậm chân ghì chặt xuống đất. Đứng thẳng đơ như cây sào và giơ tay phải lên, mắt không nhìn Ashmont mà ghim vào một chiếc cúc trên áo khoác cậu ta. Anh biết Ashmont cũng làm y hệt, chọn một vật nhỏ để ngắm, và chỉ tập trung vào nó.

    Họ hiểu nhau quá rõ. Họ đã làm việc này quá nhiều lần, dù đây là lần đầu họ chĩa súng vào nhau.

    Khả năng họ giết nhau là rất cao.

    Xin lỗi, Olympia.

    Nhưng đó là khoảnh khắc duy nhất Ripley cho phép mình mềm lòng. Trên bãi đấu không có chỗ cho cảm xúc.

    Những người làm chứng lui về khoảng cách an toàn sau lưng hai đấu thủ.

    Các bác sĩ đứng chốt ngay phía sau họ vài bước.

    Đám người hầu lùi nữa, ra sau các bác sĩ.

    Ripley lên cò và nâng súng.

    Cả tâm trí, cả con người anh dồn hết vào việc bắn trúng Ashmont. Anh biết Ashmont cũng thế, gạt ra ngoài mọi suy nghĩ, mọi hối tiếc, mọi ký ức.

    “Các ngài sẵn sàng chứ?”

    “Rồi,” Ripley và Ashmont đáp cùng lúc.

    ***
    Khi thoáng thấy cỗ post chaise nép giữa rặng cây, Olympia bảo người đánh hackney dừng lại, và cô đã đẩy cửa sổ cổ lỗ xuống, với tay nắm chốt cửa khi xe còn chưa đứng hẳn.

    Cô phóng xuống đường và chạy về phía xe poót chaise, Jenkins bám theo sau.

    “Họ đâu?” cô hỏi người xà ích. “Họ ở đâu rồi?”

    “Không biết,” ông ta đáp.

    “Ông biết mà. Họ—”

    Cô ngừng lại, nghe thấy tiếng người.

    “Cô đừng lao vào như thế, thưa phu nhân,” người xà ích nói. “Chẳng biết cô sẽ lao trúng chỗ nào đâu. Họ vào đó cũng khá lâu rồi.”

    Ông nói đúng. Cô chẳng biết chuyện gì đã xảy ra, và điều cuối cùng cô muốn là gây xao lạc để ai đó chết oan vì sơ sẩy.

    Khác gì chết có chủ đích, mấy tên ngốc.

    Nhưng xin hãy để họ còn đang lằng nhằng đo đất với canh khoảng cách.

    Cô rón rén đi theo con lối người xà ích chỉ đám đàn ông đã đi… và khựng lại, sững sờ, khi khoảng trống mở ra trước mặt.

    Họ đã vào vị trí, đang giương súng.

    Y như cơn ác mộng khiến cô đông cứng, không nhúc nhích, không thét nổi. Giờ cô cũng không dám. Cô chỉ biết đứng im như tượng, cầu cho Ripley không bắt gặp cô ở khóe mắt. Giờ đã quá muộn để ngăn anh. Cô không được làm anh xao lạc mà lệch tay.

    Tất cả những điều ấy vụt qua não cô trong chớp mắt nhưng dài như cả đời trong lúc cô bất lực dán mắt vào bức tranh sống, tay Ripley giương súng chĩa vào bạn mình. Súng của Ashmont chĩa vào Ripley. Cả hai đứng cứng đờ. Từ chỗ cô đứng, họ như hóa đá.

    Một giọng hô, “Các ngài sẵn sàng chứ?”

    Ngay lúc đó, cả hai người cùng nói, “Rồi,” còn cô thì đưa tay bịt miệng, nuốt nghẹn tiếng thét đang dâng, Khônggggg!

    Cô thấy chiếc khăn hiệu lệnh rơi xuống. Nó rơi chậm đến mức như treo giữa không, chao liệng, rơi, rơi, rơi. Hai tiếng nổ xé toạc sự tĩnh lặng buổi sớm, cái nọ chồng lên cái kia chỉ trong chớp mắt.

    Cùng khoảnh khắc bất tận ấy, cô thấy tay Ripley hất lên, khẩu súng nổ chỉ thiên. Đàn chim tung bay khỏi tán cây, kêu chói lói, còn cô bất lực nhìn anh xoay người và gục xuống đất.



    *Hyde Park Corner nằm giữa Knightsbridge, Belgravia và Mayfair ở London, Anh. Thuật ngữ này chủ yếu chỉ một nút giao thông lớn ở góc đông nam của Hyde Park, vốn ban đầu do kiến trúc sư Decimus Burton quy hoạch. Nút giao này có một vòng xuyến mảng xanh rộng ở trung tâm, nay là nơi đặt Cổng Wellington do Burton thiết kế.

    **Post chaise là một loại xe ngựa chở khách đường dài phổ biến ở Anh thế kỷ 18–19.
     
    Chỉnh sửa cuối: 15/9/25
    thanhphonge thích bài này.
  3. thuylinhh

    thuylinhh Lớp 3

    Chương 18


    Olympia đứng chết lặng, không tin nổi những gì mắt mình vừa thấy.

    Mọi thứ im phăng phắc, chỉ còn lũ chim vẫn chí chóe.

    Trong cơn tê dại, cô nhìn Ashmont trao súng cho một người đàn ông đứng gần rồi lao về phía Ripley. Một người khác cũng đang chạy tới, nhưng Ashmont xô anh ta ra.

    Lúc đó cô mới cử động được, cơ bắp cứng đờ.

    Cô thấy Ashmont quỳ sụp xuống, đỡ đầu Ripley lên. Một vệt đen loang dọc bên mặt rồi chảy xuống cổ anh.

    Cô thấy người Ripley co giật. Thân Ashmont cũng run lên khi anh ta cúi xuống bạn mình.

    Cơn tê dại vỡ vụn, cô lao băng qua khoảng trống.

    Cô xô mạnh vào Ashmont đến mức anh ta ngã bật ra.

    “Tránh ra!” cô hét. “Để anh ấy yên!”


    Cô quỳ xuống bên chồng; cơ thể anh, nằm nghiêng, co giật từng chập. Máu. Quá nhều máu. Cô muốn lả đi.

    Cô cảm nhận có người khác ở đó, mở một chiếc túi đen—nhưng người ấy chỉ như lũ chim phẫn nộ kia. Tiếng động. Phông nền.


    Rồi cô nhận ra một âm thanh khác, hoàn toàn lạc điệu.

    Mất một lúc cô mới nhận ra đó là gì.

    Tiếng cười. Những tràng cười rộ, ồ ồ. Cô nhìn xuống cái đầu vấy máu của chồng. Anh đang cuộn người lại, cười.


    Cô nhìn sang Ashmont, anh ta đã lồm cồm quỳ dậy. Tay ôm bụng mà cũng cười.

    “Tôi ghét hai người!” cô thét lên. “Tôi ghét cả hai!”

    Cô nắm chặt tay lại, nện vào cánh tay Ripley. “Đồ ngốc! Anh bị làm sao vậy?” Cô đấm liên hồi. Nước mắt ứa ra—cô ghét phải khóc—nhưng không sao dừng được.

    Cuối cùng Ripley chụp lấy tay cô. “Anh không sao mà,” anh thở dốc.

    “Không sao cái gì,” cô nói. “Chả có gì là ổn. Nhìn anh xem. Anh bị làm sao vậy?”

    Ripley đang nhăn nhở cười. Máu rịn xuống mặt anh.

    “Ripley!”


    “X… xin lỗi, em yêu.” Anh khịt khịt cười. Ashmont cũng phát ra đúng âm thanh đó.

    “Tôi ghét hai người đến tận xương tuỷ,” Olympia nói.


    “Nếu Đức bà cho phép, tôi xin được khám cho Đức ông,” người cầm túi đen lên tiếng.

    Cô tránh sang một bên. Cô kéo gối lên, khoanh tay đặt lên đó, tựa trán xuống và cố lấy lại hơi. Tim cô vẫn đập loạn.

    “Khốn khiếp, Olympia,” Ripley nói. “Lẽ ra em phải đang ngủ chứ.”


    Cô ngẩng lên. “Đừng nói chuyện với em.”

    Anh gượng ngồi dậy, nhăn mặt. Tay đưa lên đầu. “Rát thật đấy.” Anh hạ tay xuống. Dính nhơ nhớp. Máu rỉ ra từ bên thái dương, phủ kín nửa khuôn mặt.

    Cô lại úp mặt xuống cánh tay.


    “Tôi sẽ khâu lại ngay thôi, thưa Đức bà,” người cầm túi đen nói. “Sượt da đầu thôi. Tôi nghĩ Đức bà cần chút sal volatile (dùng để kích thích tỉnh lại khi choáng.
    ) cho tỉnh.”

    “Không,” Olympia nói. “Tôi không bao giờ ngất.” Cô đã chứng kiến các cậu em trai chảy máu bao nhiêu lần rồi—tụt từ cửa sổ, rơi cây, rơi xuống hồ, ngã vào đá. Hoặc đánh nhau. Nhưng lần này thì khác. “Có vẻ như anh ấy chưa chết.”


    “Rõ là chưa,” Ripley nói. “Chẳng thấy giống chết chút nào.”

    Cô quay đi. Vừa giận vừa sợ. Anh cười—đúng là kiểu của anh—chừng nào còn thở được. Bác sĩ bảo là nhẹ—đàn ông lúc nào cũng thế. Việc kinh khủng nhất thì coi như chuyện nhỏ, còn chuyện vặt lại làm rối tung lên.

    Nhưng máu quá nhiều. Cô chợt nhớ cách Ripley cư xử khi trẹo mắt cá. Đàn ông coi bị thương là điều hạ mình. Họ giả vờ như không sao. Có chết tới nơi họ cũng diễn như không.

    Cô dịch ra xa. Cô không cần lượn lờ quanh đó trong lúc bác sĩ xử lý cho gã chồng ngốc nghếch của cô. Ripley không phải đang hấp hối. Chỉ là cô đang quá kích động. Hai bàn tay vẫn run. Cô trừng mắt nhìn họ.

    “Phải, tốt nhất để bác sĩ làm việc,” Ashmont nói. “Không muốn thằng đểu này chảy máu đến chết vì một cái lỗ bé xíu trên đầu đâu.”

    “Bé xíu?” Ripley gắt. “Quỷ tha ma bắt, suýt nữa cậu giết tôi rồi. Cậu nghĩ cái gì trong đầu vậy hả?”

    “Cậu cố tình bỏ phát bắn!” Ashmont bật lại. “Cậu phải bắn vào tôi chứ, đồ ăn gian.”

    “Ăn gian?” Ripley nói. “Cậu nghĩ tôi sẽ làm gì? Cậu suýt giết tôi đấy, đồ nửa mùa.”

    “Cậu bị làm sao thế?” Ashmont nói. “Cậu thậm chí còn chẳng thèm cố bắn trúng tôi.”

    “Cậu nghĩ tôi sẽ làm thế thật à?”


    “Sao lại không?”

    Trong lúc họ cãi nhau, bác sĩ điềm nhiên tiếp tục làm. Lần hiếm hoi trong đời, Olympia không có hứng nhìn. Dù sao cô cũng đoán được cần làm gì, rửa sạch vết thương, ép cầm máu. Nếu đúng là nhẹ như ông ấy nói, máu sẽ sớm ngừng. Bao lâu thì cô không rõ.

    Nhưng chẳng ai trong đám đàn ông tỏ vẻ lo lắng. Dù họ có giấu, cô vẫn sẽ cảm nhận được sự căng thẳng—nhưng cô lại cảm thấy… nhẹ nhõm?

    Đàn ông.

    “Một cái lỗ trên đầu,” cô lầm bầm. “Chúng ta chắc là trước đó không có sẵn chứ?”


    Bác sĩ mỉm cười nhạt. “Viên đạn chỉ sượt rất nhẹ vào vành tai Đức ông rồi cạ qua da đầu. Trông có vẻ ghê gớm vì vết đầu chảy rất nhiều máu.” Ông bắt đầu băng đầu cho Ripley. “Không chí mạng đâu, may mắn là vậy. Rất gọn. Rất sạch.”

    “Anh ấy sẽ sống chứ?” cô hỏi.

    “Nếu em cho phép,” Ripley chen vào.


    “Còn lâu!” cô quắc mắt. “Em không nói chuyện với anh.” Cô lườm Ashmont. “Cả anh nữa.”

    “Tôi ư?” Ashmont kêu. “Cậu ta phải bắn vào tôi chứ. Cậu ta còn chẳng bắn về phía tôi nữa là.”

    “Tôi không thể bắn người bạn thân nhất của mình,” Ripley nói. “Tôi đã tự nhủ là có thể, nhưng không làm nổi.”

    “Tôi thì đã trông chờ cậu bắn đấy!” Ashmont nói. “Tôi sẽ bắn lệch cậu một ly. Nhưng cậu hất cánh tay chết tiệt ấy lên làm tôi trượt tâm, đồ quỷ tha ma bắt.”

    “Tôi biết thế nào được?”

    “Chứ tôi còn làm gì khác?”


    Olympia nhìn từ người này sang người kia, không tin nổi. “Đừng ai nói là tất cả chỉ cho có.”

    “Vì danh dự,” Ripley nói.

    “Danh dự,” Ashmont lặp lại.

    “Danh dự của cậu ta,” Ripley nói. “Của anh.” Anh nhìn mặt Ashmont một thoáng rồi nhìn cô. “Cả của em nữa, thưa nữ công tước.”

    “Nhất là của cô,” Ashmont thêm.


    Cô trừng mắt. “Tôi á! Như thể tôi muốn người ta làm trò ngu xuẩn nhân danh mình vậy.”

    “Quỷ tha, Olympia,” Ashmont nói. “Tôi không thể để cô đi mà không chiến đấu.”

    “Đánh đấm cho ra trò,” Ripley nói. “Đấm một cú vào mặt thì không đủ.”

    “Nhìn sẽ đẹp hơn nếu cậu thực sự bắn vào tôi,” Ashmont bảo.

    “Chắc thế rồi.”

    “Đẹp hơn á!” Olympia không tin vào tai mình. Lẽ ra cô phải quen—cô có những sáu anh em trai.

    Và đúng hệt như mấy ông anh, hai gã kia nhìn cô bằng vẻ mặt bối rối đến tội.

    Bác sĩ lặng lẽ thu dọn túi và lui ra.

    Ripley nói, “Nhưng em không hiểu sao? Nếu Ashmont không đấu vì em, người ta sẽ tưởng cậu ta chẳng coi em đáng giá.”

    “Nhưng cô đáng,” Ashmont nói. “Phải đấu thôi.”

    “Xin trời cho tôi thêm sức,” Olympia giơ tay lên trời rồi quay đi.

    ***


    Ripley và Ashmont dõi mắt nhìn cô bỏ đi. Lần này dáng bước của cô còn phảng phất sốt ruột.

    Ashmont nói, “Đừng mong phụ nữ hiểu được chuyện này. Nhưng cậu thì phải hiểu.”

    “Ừ. Tôi mất một lúc. Hơi rắc rối tí.”


    “Tôi cũng nghĩ thế.”

    “Đỡ tôi dậy cái, được không?”


    Ashmont đỡ anh đứng lên. “Thú thật, tôi đã khá muốn giết cậu,” cậu ta nói. “Hoặc ít nhất cũng làm cậu bị thương nặng. Dù sao thì lúc ấy tôi nghĩ thế.”

    “Tôi biết. Sao cậu không làm vậy?”


    Vì sao. Ripley vừa đòi một lời giải thích—điều vốn người ta không nên làm.

    Trán Ashmont chau lại; một lúc lâu cậu ta mới lại cười, lần này hơi méo, rồi nhún vai. “Bức thư cô ấy viết. Nó… tử tế.”


    Ánh mắt xanh của cậu ta lại dõi theo Olympia, người đang sải bước giận dữ về phía lối mòn. “Cậu nên đi theo cô ấy đi. Khó xử lắm nếu cô ấy lại giật mình bỏ chạy. Lần nữa.”

    Cậu ta bật cười rồi quay đi với đám người đi cùng.

    Ripley đuổi theo vợ mình.

    ***

    Anh bắt gặp cô đang đứng chờ bên cỗ xe post chaise. Khoanh tay trước ngực, cô dõi theo anh tiến lại. Anh cố không khập khiễng. Đầu thì đau nhức và rát, nhưng anh quyết không thừa nhận.


    “Có lẽ em sẽ phải thay băng,” cô nói. “Và chườm đá.”

    “Không đời nào,” anh đáp. “Snow sẽ làm. Em muốn làm anh ta tổn thương à?”

    Cô liếc sang người hầu riêng của anh. “Anh sẽ về Dinh thự Ripley cùng Jenkins. Công tước và tôi sẽ đi bằng cái xe này này.”

    Snow theo phản xạ định làm theo—đàn ông là thế, cứ như không cưỡng lại nổi—nhưng kịp dừng và quay sang chờ lệnh Ripley.

    “Như Đức bà nói,” Ripley bảo. “Cô ấy định mắng tôi một trận nên thân, tôi chẳng nghi ngờ gì. Đi đi. Đây đâu phải chuyến đầu của anh trên xe thuê, và Jenkins sẽ không cắn đâu. Ít nhất là không mạnh. Nguy cơ nhiễm trùng thì khá nhỏ, tôi dám chắc điều đó.”

    Snow lui bước.

    Pershore thì khôn ngoan chuồn mất hút từ lâu.

    Nếu là Pershore và thấy Olympia lao tới, Ripley cũng chạy.

    Ripley đỡ Olympia lên xe, rồi trèo vào ngồi cạnh.

    Im lặng và một bầu không khí lạnh tanh bao trùm cho đến khi họ sắp tới quán rượu Green Man trên Putney Hill.

    “Chúng ta có thể dừng, nếu anh muốn,” cô nói. “Em biết đó là lệ thường sau một trận đấu súng.”

    À. Băng đang tan rồi.

    “Hôm nay thì thôi,” anh nói. “Lúc nãy anh đã làm ấm người một chút rồi. Brandy pha soda. Cái đó cũng ‘truyền thống’.”

    “Giá mà em biết,” cô nói. “Đó hẳn là thứ em nên dùng trước đám cưới. Đám cưới lần thứ nhất. Brandy thì cũng ổn. Trà cũng ổn. Nhưng trộn với nhau thì thật là kinh tởm. Em mừng vì anh cũng phải uống ‘lấy can đảm’. Chứng tỏ anh còn đôi chút biết điều.”

    “Anh đâu có mất bình tĩnh,” anh nói. “Nhưng anh không sợ Ashmont. Biết là có khả năng cậu ta bắn trúng mình. Tuy nhiên, xác suất tử vong thì nhỏ thôi, em biết đấy. Một phần mười bốn. Bị thương cũng ‘chỉ’ một phần sáu.”

    Cô nhìn anh qua gọng kính. “Chỉ?”

    “Em là người thực tế và tỉnh táo,” anh nói. “Vậy hãy nhìn chuyện này cho thực tế và tỉnh táo. Chia cơ thể của một tay đấu súng thành chín phần. Nếu đứng đúng cách, viên đạn sẽ không giết được trừ khi trúng vào một trong ba phần ấy.”

    “Đứng đúng cách. Nghĩa là… ở làng kế bên chứ gì?”

    “Vấn đề là không bao giờ quay chính diện. Nực cười lắm. Còn nếu đứng như bọn anh đã đứng, xác suất không trúng là năm chọi một, và kể cả trúng thì khả năng thành đòn chí mạng cũng ba chọi một.”

    “Em để ý là con số ấy không bằng không.”

    “Cô gái của anh ơi, em thử đoán xem xác suất em bỏ mạng khi phóng như bay tới Putney bằng cái xe ngựa mui trần hạng hackney cabriolet là bao nhiêu? Mấy tay đánh xe tự xưng ấy nghĩ họ là nài ngựa Goodwood. Xe thì như bẫy chết người. Em cũng biết như anh là họ hất khách xuống đường như cơm bữa. Đáng lẽ ra anh mới phải giận điên vì em liều mình như thế, nhưng anh thì không, vì anh là người rộng lượng, và anh biết em làm vậy vì lo cho anh. Mà đâu có chuyện đó nếu em chịu ngủ như đáng lẽ phải ngủ. Đêm qua anh không làm em mệt đủ sao?”

    Mắt cô mở to. “Vậy nên anh mới làm… tất cả những thứ đó? Để vắt kiệt em ư?”

    “Quỷ tha ma bắt, em tưởng anh tính toán đến thế sao? Anh chỉ muốn em, muốn tận hưởng đêm tân hôn, và chắc chắn để em không bao giờ quên nó. Anh đã dự định là sẽ không chết. Nhưng cũng phải tính đến khả năng đó—dù nhỏ chứ.”

    Cô ngắm cái đầu băng bùng của anh một lúc. “Nếu buộc phải nhìn cho logic, thì anh đúng là minh họa sống cho các con số. Lệch đi một, hai phân thôi là đã khác xa rồi.”

    “Anh còn thích viên đạn sượt qua tai một phân hơn,” anh nói. “Vừa rồi thì ‘sát da’ quá.”

    “Theo nghĩa đen luôn.”

    “Dẫu vậy cũng phải khen Ashmont. Cậu ta canh khoảng cách khá chuẩn như người ta có thể làm. Bọn anh bắn giỏi khủng khiếp luôn. Cha của Blackwood rèn cậu ta ghê gớm. Tự nhiên bọn anh không thể để cậu ta giỏi hơn mình, thế là bọn anh cũng cắm đầu vào luyện. Nhưng giỏi mấy thì cũng chẳng đoán nổi tên kia sẽ làm gì. Chẳng biết nó nghĩ gì, dù quen nhau cả đời và thân như anh em. Anh lại phá hỏng mưu khéo của Ashmont. Thật ngu ngốc. Anh không cố ý. Anh định bắn cho đúng phép. Nhưng rồi… như em thấy đấy.”

    Rốt cuộc, khi mọi thứ nói xong làm xong, anh đã làm tổn thương một người bạn như anh em, và điều duy nhất danh dự cho phép là bắn chỉ thiên. Ripley còn chẳng chắc lúc ấy mình kịp nghĩ cho ra ngô ra khoai. Chỉ là trong khoảnh khắc. Định nhắm vào Ashmont—rồi thôi.

    “Ôi, Ripley,” cô nói.

    Bầu không khí ấm lên thấy rõ.

    “Lại đây,” anh bảo. Không chờ cô nhích lại, anh kéo cô vào vòng tay, đặt cô ngồi lên đùi. “Thế này mới phải chứ.”

    Cô tựa đầu lên vai anh. “Đó là những phút—một, hai phút hay bao lâu cũng được—tệ hại nhất đời em.”

    “Anh xin lỗi.”

    “Nhưng anh tưởng em đang ngủ, và anh chắc rằng mình sẽ về nhà—còn sống—trước khi em thức dậy và đọc thư của anh. Anh không cố biến ‘khoảnh khắc tệ nhất đời em’ thành ngày ngay sau đám cưới thật sự của em.”

    “Em dậy sớm thế là rất… thiếu tinh thần thượng võ đấy.”

    “Em gặp ác mộng.”

    Cô kể cho anh nghe.

    “Anh đội khăn xếp ư? Hay thật.”

    Cô ngả người ra để nhìn anh. “Cái băng quấn trông cũng giống khăn xếp. Em không tin điềm báo, nhưng em lại thấy mình có linh cảm. Có nhiều anh em trai thì người ta phát triển giác quan nhạy lắm khi họ sắp làm điều dại dột. Anh sẽ đau đầu kinh khủng, mong là anh biết điều này.”

    Thực ra đã đau rồi, và thần kinh của anh rất cần một ly brandy, không pha soda. Hai, ba ly càng hay. Nhưng cô đang trong vòng tay anh, trông như đã tha thứ, và anh chỉ muốn về nhà để cô được cưng nựng chăm sóc cho mình, còn anh thì đóng kịch là không cần.

    “Anh biết chứ. Chuyện này từng xảy ra với anh và Ashmont rồi. Rất lâu về trước.”

    “Có phải lần anh ấy suýt mất tai không?” cô hỏi. “Trận đấu súng với Quý ngài Stewkley ấy?”

    Anh trố mắt. “Em biết cả chuyện đó à?”

    Cô lại rúc đầu vào vai anh. “Em chỉ biết có một trận. Mười năm trước hoặc hơn, theo Bà Thorne. Lũ thợ may léo nhéo kể, nhưng bà ấy không cho đi vào chi tiết.”

    “Trò nghịch dại thời trai trẻ,” Ripley nói. “Stewkley thì không thấy vậy.”

    “Ông ta lớn hơn anh nhiều,” cô nói. “Các anh phải làm gì khủng khiếp lắm thì ông ấy mới chịu đấu với một cậu trai vừa rời ghế nhà trường.”

    “Ông ấy bảo bọn anh xúc phạm vợ ông ta, và ông chọn đấu với Ashmont vì trò đó do Ashmont bày, lại còn cố tình ‘nhận công’.”

    “Đó là trận đầu tiên của AÁhmont sao?”

    “Ừ. Không phải cậu ta không chờ dịp đâu—bọn anh ai cũng chờ, muốn chứng tỏ bản thân như trai trẻ vẫn thế. Cuộc cãi vã làm một buổi tụ tập chán òm bỗng náo nhiệt. Hình như là một buổi dạ hội gì đó. Có mấy trò… gọi là gì nhỉ.”

    “Em không biết gọi là gì đâu.” “Kiểu đóng kịch câm hay dựng hoạt cảnh ấy. Chán chết. Bọn anh được giao chủ đề ‘tàn tích cổ’. Ashmont chọn tu viện Fountains Abbey. Cậu ta sai mang vào một cái chậu to đặt giữa sàn. Rồi cả ba bọn anh… làm ‘đài phun nước’ vào trong đó.”

    Cô nhìn anh một thoáng. Rồi đôi mắt xanh biếc của cô lấp lánh như sao. Và cô bật cười. Rồi cười rũ.

    Âm thanh tuyệt diệu. Cô làm anh quên cả cái đầu đang đau. Cô còn làm anh quên nỗi thắt lòng vì sợ mình gây cho cô buồn khổ. Cô khiến anh quên mọi cảm xúc khác mà anh phải gạt ra để làm điều cần làm.

    Anh tháo mũ trùm của cô xuống. Vùi mặt vào tóc cô và hít mùi hương giản dị mà anh thích nhất.

    Anh ôm cô, và suốt quãng đường còn lại họ không nói nhiều, nhưng thỉnh thoảng cô lại cười khúc khích. Cô bảo, “Từ nay em không thể thốt ‘Fountains Abbey’ mà không cười phá lên mất.”

    Anh cúi nhìn cô, cười như một thằng ngốc mê mẩn.

    Anh kết luận, cưới một cô gái hư hỏng đáng yêu có vô vàn lợi thế.

    ***

    Công tước xứ Ripley chưa cưới được một tuần đã mở tiệc. Ngay cả trước khi gỡ băng, anh đã đóng cửa cùng vợ bàn bạc kế hoạch. Như anh từng nói với cô, anh rất thích khoản đãi tiệc. Theo lệ thường, đến lúc này hẳn anh đã tổ chức một buổi tụ họp nào đó để mừng mình trở về từ lục địa.

    Khác biệt lần này là anh đã có một bà chủ tiệc—thực ra là một nữ công tước. Và khách khứa cũng khác—không còn chủ yếu là đám đàn ông ham chè chén và hóng xem trò nghịch ngợm tiếp theo của “Những Kẻ Bất Hảo” nữa, mà là một bộ phận đông đảo của giới thượng lưu.

    Edwina—em họ của Olympia—cũng dự, mặt mày cau có thấy rõ. Nhưng có trời mới khiến cô ta bỏ lỡ được sự kiện này. Phần lớn khách mời đều thế. Thực ra hậu trường còn có không ít toan tính, chạy chọt chỉ để kiếm cho được tấm thiệp mời đáng thèm muốn. Đây là sự kiện của Mùa: Công tước Khủng Khiếp cưới Cô Dâu Bỏ Trốn trong Một Vụ Tai Tiếng.

    Nếu năm ngoái cả “giới lớn đã ngạc nhiên khi Công tước xứ Blackwood cưới Tiểu thư Alice Ancaster, thì trước cuộc hôn nhân này họ càng choáng váng bối rối hơn.

    “Nhưng chị ta chán chết đi được!” cô chị họ Edwina nói với một người bạn khi cả hai đứng xem đôi vợ chồng nhảy.

    Nữ công tước ngước lên, nói gì đó với công tước khiến cả hai cùng bật cười.


    “Anh ấy đâu có nghĩ vậy,” người bạn nói.

    Như mọi người vẫn thầm mong, chẳng bao lâu sau lại có thêm kịch tính.


    Khi Công tước xứ Ashmont mời nữ chủ nhân ra khiêu vũ, căn phòng bỗng lặng đi, bầu không khí căng thẳng hẳn.

    ***

    “Anh nhất định phải chọn valse à,” Olympia nói khi Ashmont cuốn cô vào điệu nhảy.

    “Như thế trông đẹp hơn,” anh đáp. “Kịch tính hơn. Kia Ripley đang lườm tôi tóe lửa, còn tôi thì nhào tới bế bổng vợ cậu ta—mà lại từng là cô dâu của tôi—rồi ôm đi.”

    “Ba người đúng là bậc thầy gây chú ý,” cô nói.

    “Làm cả phòng náo loạn vui mà,” anh nói. “Lúc nào chẳng thế. Đỡ buồn chán hơn.”

    Họ nhảy thêm một lúc, rồi anh mới nói tiếp, “Sau ngần ấy năm tôi phá tan kế hoạch của các bà chủ tiệc, làm dạ vũ, tiệc tùng, hội hè của họ đảo tung, giờ họ cho rằng đám cưới của tôi tan tác là đáng đời. ‘Công lý thơ mộng’, họ bảo. Có lẽ họ cũng không sai.”

    “Tôi xin lỗi,” cô nói. “Vì đã phá đám cưới của anh.” Cô khúc khích. “Nhưng thật ra thì không.”

    Anh nhìn cô. “Nhưng cô đã viết—”

    “Ồ, lúc đó tôi nghĩ thật mà.”

    Một lát sau, gương mặt điển trai của anh nở nụ cười hẳn đã làm bao phụ nữ tan chảy. “Cô viết bảo tôi tha thứ cho cậu ta, nhưng tôi vẫn phải đi bắn hắn. Thực sự là phải đấy, cô biết mà.”

    “Cả hai người đều nói vậy. Để chứng minh tôi đáng để vì mà chiến đấu.”

    “Đúng, chuyện đó,” anh nói. “Nhưng còn nữa. Rắc rối như Ripley bảo. Nếu tôi không bắn cậu ta , cô sẽ thật sự thấy có lỗi. Cô sẽ áy náy vì những gì cô làm và tội nghiệp tôi, vì khi ấy tôi sẽ trông thật cao thượng, hy sinh. Viễn cảnh khiếp đảm biết bao! Vậy nên may là tôi đã bắn cậu ta.”

    “Tôi không gọi đó là điều tốt, nhưng anh đúng là đã cứu tôi khỏi một mớ ăn năn.”

    “Và cứu chính tôi khỏi một vết ố làm người ta buồn nôn trên cái danh tiếng đen ngòm còn lại của mình.”

    “Nếu anh làm anh ấy đau hơn dù chỉ một chút so với vừa rồi, tôi sẽ khiến anh còn tệ hơn buồn nôn nhiều,” cô nói.

    “Tôi biết mà,” anh đáp. “Cô có biết không, hôm nọ khi cô xô tôi khỏi cậu ta, đó là lần đầu tiên một phụ nữ hất tôi ngã đấy.”

    “Tôi chân thành hy vọng không phải là lần cuối.”

    “Cô gái hư hỏng,” anh nói.

    “Đúng vậy,” cô đáp, rồi cười.

    Anh cũng cười. Và nếu anh có hối tiếc—dù sâu đến mấy—anh cũng nhét chúng vào nơi chúng không thể quấy rầy mình.

    ***

    Ripley, đang khiêu vũ với em gái mình, cũng nhìn về cùng một hướng như đa số khách khứa— Ashmont, kẻ đang cười nói cùng Nữ công tước xứ Ripley.

    “Anh đúng là gặp may quỷ ám,” Alice nói. “Nếu anh về từ lục địa muộn hơn một ngày—”

    “Đừng nói thế. Em sẽ khiến anh gặp ác mộng mất. Anh biết mọi chuyện là do may mắn, từng bước một. Lúc rắc rối mới nổ ra, anh còn đang nguyền rủa em vì đã đi tới chỗ dì Julia.”

    “Em ư? Em liên quan gì?”

    “Nếu em có mặt ở đám cưới, anh đoán em sẽ tóm cô dâu lôi về lại với chú rể và ông mục sư trong chớp mắt.”

    “Hoặc em cũng có thể giúp cô ấy chạy mà.”

    “Ý đó thì anh chưa nghĩ tới.”

    “E là cũng chẳng có nhiều ý khác lóe lên trong đầu anh,” con bé nói.

    “Dù sao đi nữa, may mắn lại đứng về phía anh. Em ở xa. Nhưng không phải ở cùng dì Julia.”

    “Em có ở với dì ấy. Một thời gian.”

    “Rồi lại tới Dinh thự Drakeley chứ gì? Thật không?” Ánh mắt anh lia qua Blackwood, người đang ở phía bên kia phòng, khiêu vũ với Phu nhân Charles. “Em có chuyện gì muốn nói với anh không?”

    “Không.”

    ***

    Khúc nhạc vừa dứt thì Phu nhân Charles nói với Blackwood, “Ta cứ ngỡ hôm đó cháu sẽ ghé luôn nhà Drakeley và kéo cô vợ đi lạc của mình về cơ.”

    “Cháu đâu nào biết cô ấy cần được kéo về.”

    “Không ngạc nhiên. Đàn ông thường chẳng biết cái phúc gì. Ta khuyên cháu nên mời phu nhân của mình nhảy một bản đi.”

    “Khiêu vũ với chính vợ mình sao? Đề nghị táo tợn thật.”

    “Ta tưởng cháu thích làm người ta sốc mà. À, Quý ngài Frederick đây rồi.”

    Quý ông tóc vàng cúi chào. “Thưa Phu nhân Charles.”

    “Quý ngài Frederick,” bà nói gọn lỏn. “Ngài nghĩ gì về việc đàn ông khiêu vũ với chính vợ mình?”

    “Chuyện lạ hơn còn xảy ra,” ông đáp. “Bà có nhảy với tôi không, thưa Phu nhân Charles?”

    Lông mày Phu nhân Charles dựng lên. “Với ngài ư?”

    Ông nhìn quanh. “Tôi nào có ý hỏi thay cho quý ông nào khác.”

    “Trời đất. Quả là chuyện lạ.”

    Nhưng bà vẫn để ông dắt ra sàn.

    ***

    Nhiều giờ sau, khi khách khứa đã về hết, Công tước và Nữ công tước xứ Ripley đứng trên chiếc ban công nhỏ nhìn xuống khu vườn, ngắm bầu trời nhạt dần vào thứ hoàng hôn xám xịt vốn hay bị lầm với bình minh ở London.

    Họ đã mặc đồ ngủ, nhưng vẫn đang uống sâm-banh.

    “Em nghĩ là ổn cả, với một buổi tiệc đầu tay,” Olympia nói. “Mà thực ra em cũng chẳng làm được bao nhiêu. Em rất mừng là mình thực tế và tỉnh táo đủ để cưới một người đàn ông thích đãi tiệc, để em rảnh rang tung hoành trong thư viện của anh ấy.” Cô ngẩng lên nhìn anh. “Dù em e là buổi tiệc có hơi nhạt so với gu của anh.”

    “Giờ anh là ông chồng già rồi, gu anh tinh tế hơn,” anh nói. “Anh tận hưởng cái cảm giác chúng ta làm cả giới thượng lưu dậy sóng. Và em với Ashmont diễn màn tán tỉnh rất đẹp, khiến mọi người thấp thỏm mong sẽ có rắc rối, thậm chí chết chóc.”

    “Bọn em trông như đang tán tỉnh thật ư?” cô hỏi. “Em không hề biết. Em còn phải học nhiều.”

    “Anh thà em đừng thành chuyên gia, nhưng e là rồi cũng thành. Dù sao em diễn rất đạt. Và đâu chỉ hai người. Còn Blackwood với Alice nữa, lườm nhau tóe lửa—cả hai phía.” Anh nhấp sâm-banh. “Anh đi vắng một năm. Không rõ đây là chuyện mới hay đã diễn ra từ lâu. Giá mà biết họ gặp vấn đề gì, nhưng con bé ấy bảo đó không phải việc của anh—một chút nào.”

    “Và anh không thể hỏi Blackwood.”

    Ripley tròn mắt giả vờ kinh hãi. “Tất nhiên là không.”

    “Làm thế là không ai làm cả,” cô lắc đầu. Cô cũng để ý cách Blackwood và Alice nhìn nhau, và cách họ khéo canh để người kia không thấy. Cô cũng rất tò mò về họ, nhưng cô thấy lúc này còn hơi sớm để can dự vào đời tư của em dâu. Không có nghĩa là sau này cô sẽ không làm. Cô mong họ sẽ thân như chị em, hòa thuận như mẹ và các dì của cô, và nếu Alice muốn tâm sự hay cần giúp đỡ, cô ấy sẽ tìm đến Olympia. Và ngược lại.

    Nhưng đó là chuyện tương lai.

    “Vậy là có Alice,” anh nói. “Còn gì nữa? À đúng. Dì Julia với bác Fred của Ashmont. Nói chuyện ‘lườm dao găm’ thì…”

    “Vâng, hình như có gì giữa họ,” Olympia nói. “Lúc ông ấy tới Điện Camberley, người ta cũng cảm thấy điều đó.”

    “Anh nhớ đã từng nghe chuyện gì đó, khi nào đó,” anh nói. “Một chuyện cũ. Hình như mẹ anh kể. Nhưng quỷ tha ma bắt, anh không tài nào nhớ chi tiết.”

    Olympia nhớ những gì Phu nhân Charles đã nói với mình.

    Charles không phải lựa chọn đầu tiên của tôi… Tôi lấy ông ấy trong tâm trạng buông xuôi, nếu không nói là tuyệt vọng.

    “Em tin là có câu chuyện,” cô nói. “Dì có bóng gió với em. Nhưng không kể chi tiết. Em chỉ biết nó xảy ra trước khi dì lấy bác của anh.”

    “Vậy là phải hai mươi lăm năm trước.”

    “Dù là chuyện gì, em thấy họ nhảy với nhau rất đẹp, lườm hay không lườm.”

    “Không lạ,” Ripley nói. “Họ là bậc thầy ngoại giao. Dù hôm đó nhìn chẳng ra làm sao, cái ngày em đọc thư của Ashmont rồi bỏ đi, họ lao vào nhau như hai cơn bão.”

    “Ngày định mệnh. Bức thư định mệnh.” Olympia tựa vào lan can nhắm mắt. “Em bước ra khỏi nhà và đi thẳng tới ‘sự bại hoại tuyệt mỹ’ của mình. Tiếc là người ta chỉ có thể ‘bị bại hoại’ một lần.”

    “Không hẳn.”

    Cô quay lại, ngước nhìn anh dò hỏi, quên khuấy cái ly sâm-banh trên tay. Rượu tràn qua lan can.

    Anh lấy ly khỏi tay cô. “Anh nghĩ em uống hơi ít,” anh nói. “Vào trong uống thêm đi, rồi anh kể em nghe kế hoạch của anh. Một trong những… gọi là gì nhỉ.”

    “Em không biết gọi là gì đâu.”

    Anh đưa tay mời cô vào lối cửa mở thông sang phòng của cô. Cô bước vào trước.

    Anh đặt hai cái ly xuống. “Như kiểu đóng kịch câm hay dựng hoạt cảnh, nhưng—à không, giống vignette**? Hay là một vở kịch. Trong vở này, em chưa từng bị hủy hoại bao giờ.”

    Cô chỉnh lại cặp kính. “Thật vậy sao?”

    “Ừ. Trong vở này, anh là kẻ quyến rũ đồi bại. Anh dồn em vào một góc tối trong vườn.” Anh dắt cô tới góc phòng boudoir. “Anh vặn ria mép rồi nói, ‘Cuối cùng, mỹ nhân, ta đã tóm được nàng,’ và em sẽ nói…” Anh chờ.

    Cô giơ tay làm bộ sợ hãi kịch tích. “Ôi không, cứu tôi với!”

    “Không ai cứu em đâu. Muộn rồi. Em là của anh.” Anh kéo cô vào vòng tay.

    Olympia giả vờ chống cự. “Không, không, nghìn lần không!”

    “Em không chống lại anh được đâu. Anh quá mạnh.”

    “Ôi chao, đúng là thế.” Cô nắm lấy bắp tay anh. “Anh… đúng là to khỏe. Cơ bắp dữ dội.” Cô vuốt ngực anh. “Vừa hư hỏng, vừa nam tính.”

    “Em nên đầu hàng thì hơn.”

    “Phải không?”

    “Tất nhiên. Đó là việc thực tế và tỉnh táo nên làm.”

    Anh hôn cô, và là một cô gái thực tế tỉnh táo, cô đã làm điều thực tế tỉnh táo nhất: để mặc mình bị hủy hoại. Lại nữa. Và lại nữa đêm ấy, và còn nhiều, rất nhiều lần nữa về sau.”

    (HẾT)

    *Vignette là một đoạn ngắn miêu tả, thường gợi tả một khoảnh khắc, một cảnh hay một nhân vật. Nó không hẳn là một cốt truyện hoàn chỉnh mà giống một bức phác họa sinh động.
     
    Chỉnh sửa cuối: 31/8/25
  4. rangchieu

    rangchieu Mầm non

    Cảm ơn bạn nhiều!
     
    thuylinhh thích bài này.
  5. Vyhane

    Vyhane Mầm non

    Cảm ơn bạn đã dịch nhé
     
  6. sucsongmoi

    sucsongmoi Lớp 10

    Thêm định dạng epub.

    Trong khi đóng epub, tui có sửa một số lỗi chính tả, dính chữ...
    Cảm ơn bạn @thuylinhh
    @vqsvietnam nhận hàng ạ. :D
     

    Các file đính kèm:

    Chỉnh sửa cuối: 18/9/25
  7. thuylinhh

    thuylinhh Lớp 3

    Bác làm ebook đẹp thật đấy, thanks bác nha
     
    vinaguy and sucsongmoi like this.
  8. sucsongmoi

    sucsongmoi Lớp 10

    Bỏ công sức nhiều nhất vẫn là Người dịch. :D
     
    vinaguy thích bài này.
  9. vinaguy

    vinaguy Lớp 12

    Em có làm thêm cái bìa Việt Hóa cho nó... Hai bác nghía qua xem có ổn không thì chèn vào sách nhé... :)
    ViCongTuocAnhHao.jpg
    P/S: Em quên mất chưa thảo luận với các bác. Dịch tên tựa sách em căn vào cái đoạn tóm tắt của sách và lướt qua sách một chút nhé, chứ dịch sát nghĩa thì khác chứ không phải vậy nhé. Nói chứ không lại bị ném đá nữa có mà "máu me be bét" :)
    Nếu dịch sát nghĩa nhất thì "Vị Công Tước Trong Bộ Giáp Sáng Ngời"
     
    Chỉnh sửa cuối: 16/9/25
  10. vinaguy

    vinaguy Lớp 12

    Em có điều chỉnh chút xíu so với bìa lúc đầu... Do lúc đầu sót mất tên người dịch (Sorry bác @thuylinhh)
     
    thuylinhh thích bài này.
  11. sucsongmoi

    sucsongmoi Lớp 10

    Bạn @thuylinhh duyệt xem heng.
    Nếu Ok thì tui thay cái cover ngay và luôn..
     
    vinaguy and thuylinhh like this.
  12. thuylinhh

    thuylinhh Lớp 3

    okiii
     
  13. thuylinhh

    thuylinhh Lớp 3

    thanh kiu bác nhée
     
    vinaguy thích bài này.
  14. machine

    machine Sinh viên năm II

    abc.jpg
    Tại sao lại dùng tiếng Việt không dấu? :)) Phải chăng việc gõ dấu tiếng Việt quá khó khăn :-/
     
    ai biet gi dau and vinaguy like this.
  15. sucsongmoi

    sucsongmoi Lớp 10

    Cảm ơn bạn @machine
    Bác @vinaguy hoàn thiện luôn thể heng.
    File phía trên đang tạm gỡ xuống chờ bác ắ!
     
    vinaguy thích bài này.
  16. Phan Minh Hải

    Phan Minh Hải Mầm non

    Lót dép ngồi hóng.
     
  17. thuylinhh

    thuylinhh Lớp 3

    à bác ơi, chắc có thể năm sau tui sẽ dịch thêm quyển 2 của series này là về chuyện tình của Ashmont. Có gì khi đó bác làm giúp tui cái bìa gần giống như này được k nhỉ. Cho giống 1 series <3
     
    vinaguy and sucsongmoi like this.
  18. vinaguy

    vinaguy Lớp 12

    Hai bác ơi... Chỗ đó vì nó là cái Logo nên em cố tình để thế... Nếu Hai bác thích có dấu thì em uýnh vào luôn... Tại do lần trước em để có dấu cứ thấy nó vướng vướng làm sao í... Các bác cho ý kiến lại dùm em phát... nhé... Có khi em lục lại vẫn còn cái logo có dấu trước đây em làm í... :):):) Em nhớ là có lưu.
    Công dịch mới to, chứ công làm bìa không ăn thua gì đâu bác... Bác thích phong cách bìa đó thì em sẽ làm luôn bác nha... Miễn sao nó hoàn hảo cho một tác phẩm là OK rồi bác... Em thì người xấu xấu chút... nhưng lại thích đồ hoàn hảo :):):)
     
    machine and sucsongmoi like this.
  19. sucsongmoi

    sucsongmoi Lớp 10

    Có dấu đi bác, tiếng Việt mà. :D
     
    vinaguy thích bài này.
  20. vinaguy

    vinaguy Lớp 12

    Bác có thích phong cách Logo như thế này không nhỉ?
    LOGO TVE.png
     
    machine thích bài này.

Chia sẻ trang này